Tư Liệu Lược Sử Giáo Phận Thái Bình (1936-2026): Kỷ Niệm 90 Năm

tư liệu lược sử giáo phận thái bình

giao-xu-cat-noi

LỜI MỞ ĐẦU

Kính thưa quý Đấng bậc, quý Tu sĩ và Cộng đoàn Dân Chúa Thái Bình, Miền Bắc cũng như Miền Nam, trong nước cũng như hải ngoại!

Tổng hợp nội dung

Chín mươi năm – một khoảng thời gian không quá dài so với dòng chảy nghìn năm của lịch sử Giáo hội và 490 năm Hội Thánh Việt Nam, nhưng lại là một hành trình kỳ diệu của hạt giống Tin Mừng trên mảnh đất Thái Bình – Hưng Yên. Kể từ ngày 09/03/1936, khi Đức Thánh Cha Piô XI ban Sắc chỉ Praecipuas inter Apostolicas, chính thức thiết lập Giáo phận Thái Bình, một chương mới đã mở ra cho đoàn chiên nơi đây.

Bài “Lược sử Giáo phận Thái Bình” mà quý vị đang đọc đây không chỉ là những con số vô tri hay những mốc thời gian khô khan. Đó là một cuốn “gia phả” thiêng liêng, ghi lại hơi thở của đức tin, mồ hôi của sự lao nhọc và cả máu đào của những chứng nhân hy sinh vì Danh Thánh Chúa.

Lật lại từng trang sử, chúng ta bồi hồi nhớ về những ngày đầu đầy thử thách gian nan. Từ những bước chân truyền giáo đầu tiên của các thừa sai, đến sự lèo lái kiên cường của các vị chủ chăn tiền nhiệm. Chín mươi năm qua, Giáo phận chúng ta đã đi qua biết bao biến động của thời cuộc, từ những năm tháng chiến tranh ly tán đến những giai đoạn thử thách đức tin cam go. Thế nhưng, chính trong gian khó, sức sống của Tin Mừng lại càng tỏa rạng. Hình ảnh những ngôi nhà thờ vươn cao giữa cánh đồng lúa xanh mướt chính là biểu tượng cho sự gắn kết bền chặt giữa Đạo và Đời, giữa đức tin và hồn cốt của người dân quê lúa.

Trong tâm tình kỷ niệm 90 năm thành lập, chúng ta nhìn vào diện mạo Giáo phận hôm nay với lòng tự hào và khiêm tốn. Sự phát triển về nhân sự, các cơ sở đào tạo, những hoạt động bác ái xã hội và sự lớn mạnh của các đoàn thể công giáo tiến hành là minh chứng cho một Giáo phận đang chuyển mình mạnh mẽ. Cuốn sách này mong muốn giúp mỗi người Kitô hữu Thái Bình hiểu rõ cội nguồn của mình, để thấy rằng mỗi chúng ta hôm nay đều là một “viên đá sống động” đang góp phần xây dựng tòa nhà Giáo hội.

Kỷ niệm 90 năm không chỉ để hoài niệm, mà là để “tiếp lửa”. Chúng ta tri ân tiền nhân không gì tốt hơn bằng việc tiếp nối sứ mạng của các ngài. Vậy, cuốn lược sử này là lời mời gọi mỗi người trẻ, mỗi gia đình hãy viết tiếp những trang sử mới bằng đời sống dấn thân, hiệp hành và loan báo Tin Mừng trong thế giới hiện đại.

Dù đã rất cố gắng trong việc sưu tầm và biên soạn, nhưng lịch sử là một dòng chảy mênh mông, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự cảm thông và đóng góp của quý vị để kho tàng lịch sử của Giáo phận ngày càng hoàn thiện hơn.

Nguyện xin Trái Tim Chúa Giêsu, qua lời bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm và các Thánh Tử Đạo quê hương Thái Bình, chúc lành cho hành trình đức tin của tất cả chúng ta.

 

Saigon, ngày 07 tháng 07 năm 2026 350 năm khai mở sứ vụ Dòng Đaminh tại Bắc Việt

NHÓM NGHIÊN CỨU

VĂN VẶT THÁI – HƯNG

Khi nhắc đến giáo phận Thái Bình, người ta thường nhớ đến một giáo phận rộng lớn bao gồm tỉnh Thái Bình cũ và phần lớn tỉnh Hưng Yên cũ với dải đồng bằng rộng lớn trải dài từ bãi bồi Tiền Châu đến nương khoai An Vĩ, với dòng sông cái Hồng Hà cùng sông Luộc ngăn cách hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên, rồi sông Giàn, sông Nghĩa Trụ, sông Lực Điền và sông Cửu Yên về tỉnh Hưng Yên, sông Tiên Hưng, sông Diêm Hộ, sông Trà Lý, sông Hóa, sông Kiến Giang, sông Lân, sông Kem trĩu nặng phù sa bồi đắp nên những cánh đồng bát ngát, những vườn cây trĩu quả cùng những xứ họ đạo đức, hiền lành, chân chất, nhưng vững vàng trong Đức Tin, kiên trì trong Đức Cậy, và nồng nàn trong Đức Mến.

Tỉnh Thái Bình trước ngày 01/07/2025 là tỉnh ven biển, có tổng diện tích đất liền là 1.584,61 km2, phía Bắc giáp Hải Dương và Hải Phòng, phía Tây Bắc giáp Hưng Yên, phía Tây giáp Hà Nam, phía nam giáp Vịnh Bắc Bộ. Đơn vị hành chánh tỉnh gồm một tỉnh lỵ là Thái Bình (lên thành phố năm 2004) và bảy huyện là Vũ Thư, Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Kiến Xương và Tiền Hải.

Trong khi đó, tỉnh Hưng Yên trước ngày 01/07/2025 có diện tích khiêm tốn hơn, 920,40 km2, song lại giáp nhiều tỉnh thành hơn: phía Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía Tây giáp thủ đô Hà Nội và tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), phía Nam giáp tỉnh Hà Nam và tỉnh Thái Bình, phía đông giáp tỉnh Hải Dương. Đơn vị hành chánh tỉnh gồm một tỉnh lỵ là Hưng Yên (lên thành phố năm 2009), chín huyện là Mỹ Hào (lên thị xã năm 2019), Phù Cừ, Tiên Lữ, Kim Động, Khoái Châu, Ân Thi, Yên Mỹ, Văn Giang và Văn Lâm.

Từ ngày 01/07/2025, theo nghị quyết sáp nhập đơn vị hành chánh của Quốc hội, tỉnh Thái Bình và Hưng Yên hợp nhất lại thành là tỉnh Hưng Yên, với diện tích 2.514,81 km², với 93 xã và 11 phường, là tỉnh có diện tích nhỏ nhất trong số 34 tỉnh sau sáp nhập.

Giáo phận Thái Bình bao gồm trọn tỉnh Thái Bình cũ và không trọn tỉnh Hưng Yên cũ (các xứ Đào Xá và Bùi Xá, huyện Ân Thi thuộc về giáo phận Hải Phòng, xứ Hoàng Xá, huyện Kim Động thuộc về TGP. Hà Nội, giáo xứ Đình Tổ, huyện Văn Lâm thuộc về Giáo phận Bắc Ninh), tổng diện tích giáo phận là khoảng 2207km2.

Về lý do tại sao địa giới của giáo phận Thái Bình lại không trùng với địa giới hành chánh bây giờ, thì xin mời quý độc giả xem phần dưới.

Vùng đất của địa phận Thái Bình là nơi có bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước, với những nhân vật đầy xuất chúng, với những chiến tích còn lưu danh. Từ thuở xưa, đây là đại bản doanh của hai sứ quân Trần Lãm (Thái Bình) và Phạm Bạch Hổ (Hưng Yên) phò tá Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh nhất thống giang sơn. Lại không thể không kể đến nơi thề nguyền của Quốc công Hưng Đạo Vương bên dòng Hóa Giang mà tiếng tăm vang vọng đất Thái Bình, chốn phát tích của Danh tướng Phạm Ngũ Lão quê làng Phù Ủng mà đền miếu nghi ngút miền Hưng Yên. Này đây Nguyễn Công Trứ sinh tại Quỳnh Côi khai khẩn huyện Tiền Hải, Bùi Viện quán ở Trình Phố mở mang cảng Hải Phòng. Này đây cuộc khởi nghĩa chống Pháp của cụ Tạ Hiện, cụ Tán Thuật. Này đây quê hương của những nhân vật kiệt xuất trong lịch sử như Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ, Trạng Nguyên Lê Như Hổ, Bảng nhãn Lê Quý Đôn, Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ, Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm… quê hương của những vị quan chức thanh liêm thời cận đại như Tổng đốc Phật giáo Nguyễn Năng Quốc (Thượng Tầm, Thái Bình) thời phong kiến, Bộ trưởng Công giáo Nguyễn Mạnh Hà (Cao Xá, Hưng Yên) thời chánh phủ Hồ Chủ tịch.

Bản đồ Giáo phận Thái Bình.
Bản đồ Giáo phận Thái Bình.

LƯỢC SỬ HÀNH CHÁNH

Trước khi dẫn nhập vào lược sử Hội Thánh tại địa phận Thái Bình, xin nói sơ qua về lược sử hành chánh của hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên.

Thời nước ta mới độc lập thì hai tỉnh này thuộc về Đằng Châu. Đến triều vua Lê Long Đĩnh (1005), trong lần đi dẹp loạn, vua đi ngang qua đất Đằng Châu, thì vua đã đổi tên là phủ Thái Bình.1 Năm Thuận Thiên thứ nhất (1010), vua Lý Thái Tổ chia nước ra làm 24 lộ, phủ Thái Bình chia thành 3 lộ: lộ Khoái ở Hưng Yên, lộ Long Hưng ở phía Bắc sông Trà Lý, lộ Kiến Xương ở phía Nam sông Trà Lý. Năm Chính Bình thứ 1 (1232), thì chia lộ Long Hưng tách thành hai lộ: Long Hưng và An Tiêm. Sang thời thuộc Minh thì các lộ của nhà Trần trên Thái Bình và Hưng Yên thành phủ Trấn Man và Kiến Xương. Đến kì Lê Thái Tổ giành được độc lập, thì chia thành bốn phủ là Khoái Châu, Thái Bình, Tân Hưng và Kiến Xương, thuộc Nam đạo. Năm Quang Thuận thứ 7 (1466) thì Nam đạo đổi thành đạo thừa tuyên Thiên Trường, đến năm Quang Thuận thứ 10 (1469) thì vua Lê Thánh Tông đổi thành đạo thừa tuyên Sơn Nam. Năm Hồng Đức thứ 21 (1490), vua Lê Thánh Tông cho vẽ bản đồ Hồng Đức, thì đạo thừa tuyên Sơn Nam có các huyện theo từng phủ như sau: phủ Khoái Châu có huyện Đông Yên (sau là huyện Khoái Châu), Kim Động, Tiên Lữ, Thiên Thi (sau đổi là Ân Thi), Phù Dung (sau đổi là Phù Cừ), phủ Thái Bình có huyện Thụy Anh, Phụ Dực, Quỳnh Côi, Đông Quan, phủ Tân Hưng (sau đổi là Tiên Hưng) có huyện Ngự Thiên (sau đổi là Hưng Nhân), Duyên Hà, Thần Khê (sau đổi là Tiên Hưng), Thanh Lan (sau đổi là Thanh Quan, rồi Đông Quan), phủ Kiến Xương có huyện Vũ Tiên, Thư Trì và Chân Định (sau đổi là Trực Định, rồi Kiến Xương). Đời nhà Mạc thì bốn phủ kể trên bây giờ lại sáp nhập vào trấn Hải Dương. Song đến thời Lê Trung Hưng thì cho bốn phủ ấy về lại trấn Sơn Nam.

Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741) thì vua chia Sơn Nam thành ba lộ Sơn Nam Thượng (tức Hà Đông, Hà Nam và Hưng Yên), Sơn Nam Hạ (tức Nam Định, Thái Bình) và Thanh Hoa Ngoại (tức Ninh Bình). Vậy trong kỳ các đấng Tây dương đến xứ Thái Bình giảng đạo, thì phần Hưng Yên thuộc Sơn Nam Thượng, hay quen gọi là Nam Thượng, phần Thái Bình thuộc Sơn Nam Hạ.

Đến nhà Tây Sơn thì các lộ ấy đổi là trấn. Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) thì vua đổi trấn Sơn Nam Hạ thành trấn Nam Định, còn Sơn Nam Thượng đổi thành trấn Sơn Nam. Năm 1828, doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ mộ dân khai khẩn bãi bồi Tiền Châu, từ đó thành lập nên huyện Tiền Hải thuộc phủ Kiến Xương.

Đến năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), theo lệnh vua cho đổi các trấn ra thành tỉnh, thì phủ Khoái Châu trấn Sơn Nam và phủ Tiên Hưng trấn Nam Định lập thành tỉnh Hưng Yên, năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) thì lấy phủ Xuân Trường, Nghĩa Hưng, Kiến Xương và Thái Bình, cùng huyện Thanh Quan của phủ Tiên Hưng lập tỉnh Nam Định.

Đến năm Tự Đức thứ 3 (1850) thì đổi huyện Thanh Quan về phủ Thái Bình, và tách phủ Thái Bình thêm phân phủ Thái Bình quản hai huyện Quỳnh Côi và Phụ Dực.

Ngày 25/02/1890, để đối phó với những người còn sót lại của khởi nghĩa Tán Thuật, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập đạo Bãi Sậy, với bốn huyện như sau: huyện Yên Mỹ được thành lập từ số một số tổng từ các huyện Đông Yên và huyện Ân Thi của tỉnh Hưng Yên; một số tổng của huyện Đường Hào của tỉnh Hải Dương, một số tổng của huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh. Huyện Mỹ Hào gồm 4 tổng còn lại sau khi cắt sang huyện Yên Mỹ. Huyện Cẩm Lương gồm một số tổng của huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương, Lương Tài và Siêu Loại tỉnh Bắc Ninh, và huyện Văn Lâm gồm một số tổng của huyện Văn Giang, Gia Lâm và Siêu Loại tỉnh Bắc Ninh. Sang năm sau, Toàn quyền cho bỏ đạo Bãi Sậy, nhập huyện Yên Mỹ, Mỹ Hào, Văn Lâm vào tỉnh Hưng Yên, riêng huyện Cẩm Lương thì trả phần Cẩm Giàng về Hải Dương, phần Lương Tài và Siêu Loại thì sáp nhập vào Văn Lâm và Mỹ Hào.

Ngày 21/03/1890, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Thái Bình, trên cơ sở các phủ Thái Bình, phân phủ Thái Bình, phủ Kiến Xương và huyện Thần Khê thuộc phủ Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên, lỵ sở đặt tại phủ Kiến Xương.

Ngày 28/11/1894, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định chuyển huyện Tiên Lữ về phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, và chuyển hai huyện còn lại của phủ Tiên Hưng là Thần Khê (sau là huyện Tiên Hưng) và Duyên Hà về tỉnh Thái Bình. Như vậy, Thái Bình và Hưng Yên có ranh giới tự nhiên là sông Luộc.

Những năm sau này, phủ không còn là một đơn vị hành chính cao hơn huyện nữa, nhưng trở thành đơn vị hành chánh đồng cấp với huyện. Như vậy, tỉnh Thái Bình khi ấy có 3 phủ (huyện) là Thái Bình (đổi là Thái Ninh), Kiến Xương, Tiên Hưng và 9 huyện là Vũ Tiên, Thư Trì, Tiền Hải, Đông Quan, Thụy Anh, Phụ Dực, Duyên Hà và Hưng Nhân. Tỉnh Hưng Yên có một phủ là Khoái Châu và 7 huyện là Ân Thi, Kim Động, Phù Cừ, Tiên Lữ, Mỹ Hào, Yên Mỹ và Văn Lâm. Sau năm 1945 thì bỏ cấp phủ, chỉ còn huyện.

Ngày 26/01/1968, theo Nghị quyết số 504-NQ/TVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội Việt Nam, hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên sáp nhập thành tỉnh Hải Hưng.

Ngày 17/6/1969, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 93- CP về việc hợp nhất và điều chỉnh địa giới trong tỉnh Thái Bình, trong đó: hợp nhất huyện Đông Quan và Tiên Hưng thành Đông Hưng, huyện Hưng Nhân và Duyên Hà thành Duyên Hà, huyện Thái Ninh và Thụy Anh thành Thái Thụy, huyện Quỳnh Côi và Phụ Dực thành Quỳnh Phụ, huyện Vũ Tiên và Thư Trì thành Vũ Thư, thị xã Thái Bình, huyện Kiến Xương và huyện Tiền Hải giữ nguyên tên, nhưng có thay đổi địa giới hành chánh.

Ngày 11/03/1977, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 58-CP về việc hợp nhất các huyện trong tỉnh Hải Hưng như sau: hợp nhất huyện Tiên Lữ và Phù Cừ thành Phù Tiên, huyện Văn Giang và Yên Mỹ thành Văn Yên; huyện Văn Lâm và Mỹ Hào thành Văn Mỹ.

Ngày 24/02/1979, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 58-CP về việc hợp nhất các huyện trong tỉnh Hải Hưng như sau: hợp nhất huyện Kim Động và Ân Thi thành Kim Thi; Hợp nhất huyện Văn Mỹ và Văn Yên (trừ 14 xã cắt sang huyện Khoái Châu) thành Mỹ Văn; Sáp nhập các xã của huyện Văn Yên vào huyện Khoái Châu thành một huyện mới là huyện Châu Giang.

Ngày 27/01/1996, Chính phủ ra quyết định số 05-CP về việc tách huyện Kim Thi ra lại thành huyện Kim Động và huyện Ân Thi.

Ngày 06/11/1996, Quốc hội khoá X phê chuẩn việc chia tỉnh Hải Hưng thành Hải Dương và Hưng Yên. Việc phân chia này có hiệu lực từ ngày 01/01/1997. Sau đó, các huyện cũ dần được tái lập: ngày 24/02/1997, Chính phủ ra Nghị định số 17/CP chia huyện Phù Tiên thành hai huyện Phù Cừ và Tiên Lữ; ngày 24/07/1999, Chính phủ ra Nghị định số 60/1999/NĐ-CP chia huyện Mỹ Văn thành ba huyện

Mỹ Hào, Văn Lâm, Yên Mỹ; chia huyện Châu Giang thành hai huyện Khoái Châu và Văn Giang.

Hai thị xã tỉnh lỵ của hai tỉnh cũng dần được nâng lên thành phố: ngày 29/04/2004, Chính phủ ra Nghị định số 117/2004/NĐ-CP thành lập thành phố Thái Bình; ngày 19/01/2009, Chính phủ ra Nghị định số 04/NĐ-CP thành lập thành phố Hưng Yên.

Ngoài ra, ngày 13/03/2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV ra nghị quyết số 656/NQ-UBTVQH14 thành lập thị xã Mỹ Hào trên cơ sở diện tích của huyện Mỹ Hào, có hiệu lực từ ngày 01/05/2019.

Ngày 12/06/2025, Quốc hội khóa XV ra nghị quyết số 202/2025/QH-15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính, trong đó hợp nhất tỉnh Thái Bình và Hưng Yên thành tỉnh Hưng Yên. Việc vận hành bộ máy chính quyền tỉnh mới bắt đầu từ ngày 01/07/2025, đồng thời triển khai việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, là cấp tỉnh và cấp xã, nên cấp huyện không còn nữa.

Vậy địa giới của giáo phận Thái Bình hiện nay không bao trọn địa giới của tỉnh Hưng Yên hiện nay, là do khi chia tách giáo phận theo từng thời kỳ, thì Tòa Thánh chia theo địa giới của tỉnh huyện vào thời điểm đấy. Khởi nguyên, địa phận Đông (tức giáo phận Hải Phòng, Bùi Chu, Thái Bình, Bắc Ninh và Lạng Sơn bây giờ) và địa phận Tây (tức giáo phận Hà Nội, Hưng Hóa, Phát Diệm, Thanh Hóa, Vinh bây giờ) khi được thành lập năm 1679 thì được chia cắt không theo ranh giới tỉnh mà theo ranh giới tự nhiên là sông Hồng. Đến khi chia địa phận Đông và địa phận Trung (tức giáo phận Bùi Chu và Thái Bình bây giờ) thì theo địa giới tỉnh huyện thời ấy, tức tỉnh Hải Dương và Bắc Ninh thuộc địa phận Đông, còn tỉnh Nam Định và Hưng Yên thuộc địa phận Tây, song sau này có mấy xã mấy huyện của Hải Dương và Bắc Ninh sáp nhập vào Hưng Yên, thì Tòa Thánh cũng mặc lòng vẫn cho địa phận Đông giữ các xứ họ trong xã huyện ấy, vì việc ấy không ngăn trở gì trong việc mục vụ, chưa kể các xứ họ ấy còn truyền thống gắn bó với địa phận của mình.

Bản đồ tỉnh Hưng Yên mới từ ngày 01/07/2025 với 104 xã phường. Nguồn: Sở Nội vụ Tỉnh Hưng Yên
Bản đồ tỉnh Hưng Yên mới từ ngày 01/07/2025 với 104 xã phường. Nguồn: Sở Nội vụ Tỉnh Hưng Yên

TIN MỪNG NẢY MẦM

Những bước chân đầu tiên của các đấng Dòng Tên và Hội Thừa Sai Paris, cùng Công đồng Phố Hiến

Thực sự thì Tin Mừng đến Thái Bình từ khi nào thì chưa hẳn rõ, vì chúng tôi đã từng nghe nơi này nơi kia nói rằng xứ đạo mình là nơi có đạo đầu tiên, song vì là lời truyền khẩu, hoặc trích từ phả tộc, cần phải nghiên cứu, đối chiếu với các tài liệu chánh sử, cho nên có thể sẽ có sai sót.

Tài liệu mà chúng tôi tạm cho khả tín, vì người Bồ Ngọc đưa cho trước, đó là gia phả họ Hoàng Bồ Ngọc, mà trong đấy có một bài thơ “Thọ Giáo Thi” bằng chữ Nho, kể về gốc tích nhập đạo của làng Bồ Trang như sau:

bài thơ “Thọ Giáo Thi” bằng chữ Nho
Bài thơ “Thọ Giáo Thi” bằng chữ Nho

Theo như bài thơ này, thì vào năm Dương Hòa Đệ tứ, tức năm 1638, có một thừa sai đi theo đường sông, mà đặt chân đến đất Bái Bồ Trang để truyền đạo, mà đã được mọi người từ người có học đến dân đen đều đón nhận, cho rằng Đạo này là Đạo thật đáng lưu truyền cho con cháu. Đây có thể là văn bản cổ xưa nhất về việc xuất hiện đạo Thánh tại địa phận ta mà chúng tôi tiếp cận được. Nhưng có lẽ sẽ còn không ít tài liệu đương thời, thậm chí xưa hơn thế nữa.

Nhưng nói gì thì nói, giáo hữu Thái Bình ắt phải công nhận rằng Phố Hiến là cái nôi Đức Tin của địa phận Thái Bình. Thật vậy, khi nhắc đến Phố Hiến, thì chắc chắn không thể quên câu ca dao được truyền tụng: “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến.” Đây là nơi thương cảng sầm uất với nhiều tàu buôn nước ngoài, là trạm trung chuyển giữa cửa biển với Thăng Long. Vì thế, Phố Hiến cũng trở thành nơi cập bến của các thừa sai Âu Châu khi khởi sự việc truyền giáo tại Đàng Ngoài, cũng như là điểm liên lạc quan trọng giữa các thừa sai. Khởi đi là từ các cha thừa sai Dòng Tên đã đến truyền giáo trong giai đoạn từ 1631-1663 và lập nên những cộng đoàn tại Kẻ Mèn, Kẻ Bái, Kẻ Riền, Kẻ Hệ, Lai Ổn, Cao Mại, Bác Trạch, …

Ngoài ra, cũng vì địa điểm đặc biệt của Phố Hiến trong lịch sử truyền giáo, nên các làng xung quanh đô thị này cũng đón nhận Tin Mừng từ rất sớm và đã trở thành những giáo xứ kỳ cựu. Nếu xuôi theo dòng sông Hồng từ cửa Ba Lạt lên Thăng Long, đi ngang qua Phố Hiến, thì phía Bắc có xứ Ngọc Đường (Ngọc Đồng), phía Nam có xứ Tiên Chu, và phía đông có xứ Kẻ Vân và xứ Cao Xá. Hiện nay, các giáo xứ tại miền Hưng Yên đều có nguồn gốc là họ lẻ của ba xứ kể trên.

Ngày 09/09/1659, Đức Alexandre VII thiết lập địa phận Đàng Ngoài và địa phận Đàng Trong, và cử Đức Cha François Pallu, giám mục hiệu tòa Héliopolis, làm Đại diện Tông tòa Địa phận Đàng Ngoài và Đức Cha Pierre Lambert de la Motte, giám mục hiệu tòa Béryte, làm Đại diện Tông tòa Địa phận Đàng Trong. Cả hai Đức Cha, sau khi chịu chức giám mục, thì đã mau mắn đến Ayutthia nước Xiêm, để chờ dịp kinh lý địa phận mình tại nước Nam, vì khi ấy trong nước đang cấm đạo ngặt. Tại đây, các ngài đã họp Công đồng Ayutthia vào ngày 29/02/1664. Các ngài đã ra “Monita ad Missionarios” với những chỉ dẫn cụ thể cho các thừa sai, và hướng tới việc thiết lập chủng viện miền để đào tạo linh mục bản quốc. Năm 1665, Đức Cha Pallu về Rôma báo cáo với Đức Thánh Cha, cũng như tìm nhân sự truyền giáo cho nước Nam, trong đó có việc xin Tỉnh Dòng Anh Em Giảng Thuyết Đức Mẹ Mân Côi đang đóng ở Phi Luật Tân qua bên Bắc Kỳ giảng đạo. Chính vì thế, Đức Cha Lambert thay mặt Đức Cha Pallu giám quản địa phận Đàng Ngoài. Đức Cha đã đặt cha François Deydier Phan làm cha chính địa phận Đàng Ngoài, và cử cha chính Phan đi kinh lý các xứ họ tại đó.

Vậy ngày 20/06/1666, cha chính Phan tàng hình là người đi buôn, lên tàu trẩy đi Đàng Ngoài. Sau nhiều phen gian nan, từ cửa biển đi vào sông Thái Bình, sau đó rẽ vào sông Luộc để ra sông Hồng mà đi Phố Hiến rồi trực chỉ Thăng Long, cuối cùng, ngày 12/08, cha chính Phan đã đặt chân đến Kẻ Chợ. Trong thời gian này, ngài đã quy tụ lại các thầy giảng lại để giảng dạy, rồi chọn ra hai thầy giảng ưu tú nhất để chọn lên chức linh mục. Đầu năm 1669, cha chính Phan đã đi kinh lý các xứ trong xứ Sơn Nam, trong đó, ngày 26/04, ngài từ Kiên Lao xuôi theo dòng sông Hồng đến Kẻ Mèn và ở đó 8 ngày để giải tội và ban bí tích cho bổn đạo. Trong thư của ngài, ngài miêu tả Kẻ Mèn là một “hòn đảo” (une Île), tức dải đất hình thành hình thành bởi dòng sông khi đổ ra biển, trên đó có khoảng 8 đến 10 làng chài có đạo4. Sự kiện này có thể ghi nhận lần đầu tiên một xứ đạo tại Thái Bình đón tiếp đấng bản quyền của mình.

Tại Phố Hiến, ngày 14/02/1670, Công đồng (synode) Phố Hiến đã được tổ chức dưới sự chủ trì của Đức Cha Pierre Lambert de la Motte, Giám mục Đại diện Địa phận Tông Tòa Đàng Trong, cùng tham dự có 3 cha thừa sai Đàng Ngoài là cha chính François Deydier Phan, cư trú tại Phố Hiến, cha Jacques de Bourges và cha Gabriel Bouchard, cùng 9 linh mục người bản quốc, gồm hai cha chịu chức năm 1668: cha Gioan Huệ và Bênêditô Hiền; bảy vị vào tháng 01 năm 1670, cha Mactinô Mát, cha Giacôbê Chiêu, cha Philiphê Nhân, cha Antôn Quế, cha Simon Kiên, cha Lêô Trụ và cha Vitô Tri. Cũng trong Công đồng này, Đức Cha đã lập ra các giáo xứ sau: xứ Nghệ An, xứ Thanh Hóa, xứ Thanh Hóa Thượng, xứ Thanh Hóa Hạ, xứ Tây Nam Hạ, xứ Đông Nam Hạ, xứ Đông, xứ Nam Thượng và xứ Kẻ Chợ với hai nhà thờ Phục Sinh và Sinh Nhật. Trong đó, xứ Nam Thượng đặt nhà xứ tại làng Kẻ Ruống, nay là giáo xứ Lực Điền, và giao cho cha Giacôbê Chiêu coi sóc

Cũng phải nói thêm, trong số các linh mục Đàng Ngoài tiên khởi được Đức Cha Lambert truyền chức, có một cha được coi là linh mục tiên khởi quê hương Thái Bình, đó là cha León Văn Trụ, sinh năm 1624 tại làng Đông Hồ, huyện Đông Quan, nay là giáo họ Đông Hồ, giáo xứ Khúc Mai. Ngài đã dấn thân vào Nhà Chúa từ khi 18 tuổi, được đánh giá là một người hiền lành và dễ mến. Ngài chịu chức linh mục khi đã 46 tuổi. Khi mới chịu chức, cha vấp phải sự chống đối của các thầy giảng không được chịu chức thánh.

Chúng cho rằng Đức Cha Lambert là giả mạo và việc phong chức kia là không thành sự. Có lần kia, những kẻ chống đối kia tới làm loạn khi cha đang giải tội tại nhà thờ Kẻ Vân6 thuộc tỉnh Nam (province de Midi). Bấy giờ, cha mặc áo surplice, đeo dây stola, ra trước nhà thờ đọc các sắc chỉ của Đức Cha Lambert, đoạn Người tuyên tín rằng: “Ta tin Yghêxia Công giáo, Tông truyền và La Mã, mà Đức Thánh Phapha Alexandre VII là đấng nối quyền Đức Chúa Giêsu; theo các sắc kể trên, Ta đã vâng lời để chịu các chức thánh nơi tay Đức Thầy Lambert và các kẻ theo đạo Chúa Kirixitô là con cái Yghêxia phải tin điều ấy mà chớ.” Cả thảy bổn đạo trong nhà thờ nhất trí đáp lại cùng một tâm tình ấy, khiến đám gây rối kia chẳng thể làm gì được mà bỏ về. Cũng trong một lần kia, khi cha đi làm phúc cho giáo dân ở Kẻ Hệ, thì một tên ngoại đạo muốn bắt cha. Anh ta đánh trống để kêu gọi những người ngoại đạo khác cùng tham gia. Thế nhưng, bà mẹ là người có đạo, phản đối kịch liệt việc ấy, và nói rằng nếu cha bị bắt, thì bà sẽ cùng theo cha ra công đường, xưng mình có đạo và chịu khổ hình như cha. Những lời ấy đã đánh động anh ta, đến nỗi không những anh ta từ bỏ ý định đó, mà còn xin đi học đạo và được rửa tội vài ngày sau đó. Từ đó, anh ta trở nên người tín hữu nhiệt thành và đã dẫn đưa nhiều người trở lại. Chỉ trong vài tháng sau đó, anh ta đưa một lúc 70 người đến nhận phép rửa. Cha Léon đã coi sóc các xứ Nghệ An, đoạn đổi đi xứ Thanh Hóa, rồi xứ Đông. Sau một đời phục vụ tận tụy, Người đã được Chúa gọi về tại Phố Hiến ngày 23/11/1692, thọ 68 tuổi, an táng tại nhà thờ Bùi Chu7.

Bước chân của những thừa sai Dòng Đaminh, cùng sự phân chia địa phận Tây và địa phận Đông

Quay trở về thương cảng Phố Hiến, ta lại không thể không nhắc đến một dấu mốc quan trọng khác. Ngày 07/07/1676, hai thừa sai thuộc Tỉnh Dòng Anh em Giảng Thuyết Rất Thánh Mân Côi (gọi tắt là Dòng Đaminh chi Phi Luật Tân) là Juan à Sancta Cruz Thập O.P. và Juan à Arjona O.P. đã đặt chân lên Phố Hiến, rồi năm 1681 có thêm cha Raymondo Lezzoli Cao O.P. Sau khi học thạo tiếng nước Nam với Đức Cha Phan, ngày 20/02/1677, các ngài được Cha Chính Deydier đặt về Trung Linh để coi sóc bổn đạo trong toàn xứ Hải Dương và Sơn Nam, trong đó có các phủ huyện thuộc Thái Bình ngày nay là Phủ Thái, Thanh Quan, Vũ Tiên, khởi sự công cuộc truyền giáo của Anh em Giảng Thuyết tại Đàng Ngoài

Ngày 27/11/1679, Tòa Thánh phân chia hai địa phận tại Đàng Ngoài, lấy sông Hồng và sông Lô làm ranh: địa phận Tây nằm ở tả ngạn sông Hồng, mà nay là các giáo phận Vinh, Thanh Hóa, Phát Diệm, Hà Nội, Hưng Hóa, và địa phận Đông nằm ở hữu ngạn, mà nay là các giáo phận Bùi Chu, Thái Bình, Hải Phòng, Bắc Ninh và Lạng Sơn. Trong đó, Tòa Thánh bổ nhiệm cha chính Phan làm giám mục hiệu tòa Ascalon, Đại diện Tông tòa Địa phận Đông. Ngày 21/12/1682, Đức Cha Deydier chịu chức giám mục bởi tay Đức Cha Jacques de Bourges địa phận Tây tại gian bếp trong một nhà giáo dân ở Phố Hiến. Từ khi ngài bắt đầu sứ vụ giám mục, ngài đã ở Phố Hiến, cùng tiếp tục công việc đào tạo hàng linh mục bản xứ và chị em nhà phước Mến Thánh Giá, cùng đi kinh lý các xứ họ trong địa phận, gồm các trấn Sơn Nam, Hải Dương và Kinh Bắc. Trong thời gian này, ngài phải giải quyết vấn đề vâng phục và quyền lợi mục vụ của các dòng truyền giáo đang hiện diện trong địa phận. Sau một thời gian ngã bệnh, ngày 01/07/1693, Đức Cha Phan đã được Chúa gọi về.

Sau khi Đức Cha Phan qua đời, ngày 20/10/1696, Tòa Thánh đặt cha Raimondo Lezzoli Cao O.P. làm giám mục hiệu tòa Olena, Đại diện Tông tòa Địa phận Đông. Ngày 02/02/1702, ngài được tấn phong giám mục tại Kẻ Sặt bởi Đức Cha Edme Bélot giám mục hiệu tòa Basilinopolis làm Đại diện Tông tòa Địa phận Tây. Đức Cha Cao chính là vị giám mục tiên khởi của Tỉnh Dòng Đaminh Rất Thánh Mân Côi cai quản địa phận Đông Bắc Kỳ, ngài siêng năng giải tội và ban bí tích cho bổn đạo, giữ luật ăn chay nghiêm ngặt và có lòng khiêm tốn vô cùng. Trong thời gian này, ngài đã chuyển giao xứ Lai Ổn trong Phủ Thái về cho Tỉnh Dòng coi sóc, mà đại diện là cha Juan à Sancta Cruz Thập, vì trước kia Đức Cha Phan có giao địa hạt Lai Ổn cho cha Thập, nhưng vì ngài không cáng đáng nổi nên xin nhượng cho hai cha Dòng Thánh Phanxicô Khó Khăn gốc Tây Ban Nha đang ở Đàng Ngoài để chờ dịp vô Đàng Trong, song sau này cha Juan Simon bị giết hại ngày 18/01/1704, cha còn lại cũng rời Đàng Ngoài, nên Lai Ổn được giao cho một cha triều coi sóc. Đến năm 1705, khi có cha Thomas à Sestri Bottaro (Tri) O.P. và cha Bartolomeo Sabuquillo (Bá) O.P. được cử sang Đàng Ngoài truyền giáo, thì Đức Cha Cao dạy cha chính Thập vâng lời nhận địa hạt ấy. Vậy cha chính Thập đã cử cha Tri coi xứ Lai Ổn thay mình

Đang khi mọi sự đang tiến triển, Đức Cha Cao, vì lao lực mà ngã bệnh rồi tạ thế ngày 18/01/1706, an táng tại nhà thờ Lục Thủy. Sau khi Đức Cha Cao qua đời, năm 1707, Đức Hồng Y Carlo Tommaso Maillard de Tournon, Thượng phụ Alexandria làm Khâm mạng Miền Đông Ấn và Trung Hoa, đã dùng quyền Tòa Thánh đã ban mà đặt cha Thập làm cha chính giám quản địa phận Đông. Ngày 18/03/1716, Tòa Thánh đặt cha chính Thập làm giám mục hiệu tòa Himeria, Đại diện Tông tòa Địa phận Đông, và Đức Cha Tri làm giám mục hiệu tòa Nyssa, phó Đại diện Tông tòa Địa phận Đông. Hai đấng ấy đã nhận được sắc phong vào ngày 03/04/1716. Vì khi ấy ở Đàng Ngoài không còn giám mục nào, do hai Đức Cha Chánh và Phó ở Địa phận Tây đã bị trục xuất bởi cơn bắt đạo, mà Đức Cha Chánh Thập già cả, nên Đức Cha Phó Tri đã nước ngoài chịu chức giám mục ngày 07/03/1719 tại Quảng Tây, rồi về địa phận mà phong chức giám mục cho Đức Cha Chánh vào ngày 13/08/1719 tại Trung Linh.

Nếu nói về Đức Cha Thập, thì ngài thật đáng là tổ phụ truyền giáo Dòng Đaminh tại Đàng Ngoài, mà nếu ngài không kiên quyết ở lại, thì có lẽ sẽ chẳng có một lịch sử Dòng Đaminh đáng tự hào tại Hội Thánh Việt Nam. Vì chưng năm 1679, phần gặp gian khổ triền miên do lẩn trốn khỏi cơn bắt đạo, phần phải gặp sự mâu thuẫn với các anh em bên Hội Thừa Sai Paris và Dòng Tên, nên các đấng đã bỏ Đàng Ngoài về Manila, song trước đó thì các ngài sang Xiêm bẩm trình Đức Cha Louis Laneau. Đức Cha Laneau lấy làm tiếc, nên xin các cha cố gắng ở lại giúp miền truyền giáo ấy cho. Vậy các cha đã vâng lời Đức Cha mà ở lại, song đến năm 1680 thì hai cha Ajorna và Morales không chịu nổi nữa nên xin về, song cha Thập thì không muốn về mà nói rằng: “Tôi không muốn đi, vì lương tâm bảo tôi phải ở lại đây.” nên lúc này cả địa phận chỉ còn cha Thập là tu sĩ Dòng Đaminh phục vụ tại Đàng Ngoài. Trong kỳ người làm phúc cho bổn đạo Đàng Ngoài, ngài phải ẩn trên thuyền, nhiều lúc sáng đói, đêm rét, bịnh tật triền miên, lại gặp mấy lần lùng sục bất ngờ, song Chúa đã giữ gìn cho cha thoát các sự gian nan ấy, cùng chu toàn các giờ kinh phụng vụ và ban bí tích cho bổn đạo. Ngài đã cho lập Hội Mân Côi trong các xứ họ, cùng dạy cho bổn đạo các lời kinh, thực hiện đạo đức bình dân mà đến bây giờ hãy còn lưu truyền.

Khi Đức Cha thọ phong giám mục thì lúc này ngài đã già cả ốm yếu, lại đúng lúc có một cơn bắt đạo ập đến khiến ngài phải ẩn đi nơi này nơi kia. Sau một thời gian ngã bệnh, ngài đã được Chúa gọi về ngày 14/08/1721 tại Trung Linh, thọ 75 tuổi với 45 năm sứ vụ tại Đàng Ngoài. Xác ngài được an táng tại nhà thờ Trung Linh.

Những bước chân của các Đấng Dòng Âu Tinh

Sau khi Đức Cha Thập qua đời, Đức Cha Tri kế vị. Đức Cha Tri là một người hoạt bát, nhiệt thành, làm việc tông đồ cực kỳ siêng năng, có lúc ngài đi ban phép Bí tích cho các xứ họ mấy đêm liền. Tuy vậy, dẫu cùng dòng Đaminh, song ngài là người thành Sestri nước Ý Đại Lợi, nên ngài có phần ưu ái cho các cha Dòng Thánh Âu Tinh gốc Ý. Vì thế, ngài muốn nhượng địa hạt Phủ Thái tức Lai Ổn, vốn là thuộc về Tỉnh Dòng Đaminh Rất Thánh Mân Côi, về cho Dòng Âu Tinh, khiến cho các thừa sai Đaminh gốc Tây Ban Nha không hài lòng. Vì thế, Đức Khâm sứ Mezzabarba phải sai cha Simon Soffietti đến để dàn xếp và đã có một bản thỏa ước giữa Đức Cha Tri và các cha Dòng Đaminh gốc Tây Ban Nha ngày 23/02/1723. Tuy vậy, việc tranh chấp còn căng thẳng. Vì thế, Đức Cha Tri đã không chọn một đấng cùng dòng làm giám mục phó, nhưng lại chọn một cha thuộc Dòng Âu Tinh gốc Ý để kế vị mình. Ngày 03/10/1735, cha Hilario Costa di Gèsu O.A.D. (Hy) được bổ nhiệm làm giám mục hiệu tòa Corycus, Phó Đại diện Tông tòa Địa phận Đông. Ngài đã được Đức Cha chính Tri phong chức giám mục ngày 11/11/1736 tại Lục Thủy. Ngày 08/08/1737, Đức Cha Tri tạ thế cách đột ngột tại Lục Thủy trong đêm khuya. Xác người được an táng tại nhà thờ Lục Thủy.

Khi Đức Cha Tri qua đời, Đức Cha Phó Hy lên chấp chánh địa phận. Đức Cha Hy là người thành Torino nước Ý, tu sĩ Dòng Thánh Âu Tinh Đi Chân Đất, thật là một giám mục uyên bác, xử lý công việc nhanh gọn, nói thạo tiếng Nước Nam đến mức ngài đã tự nói tiếng Việt để tranh luận với những kẻ bắt Người. Người đã viết nhiều sách phụng vụ, thần học và tu đức, nổi tiếng nhất là Sách Các Phép viết bằng ba thứ chữ Quốc Ngữ, Nôm và Latinh. Đức Cha cũng được nhận xét là rất cởi mở về việc đào tạo và phong chức linh mục bản xứ, triều cũng như dòng.

Ngày 04/12/1730, Đức Thánh Cha Clementê XII đặt ngài làm ủy viên Tông tòa Địa phận Tây, và ngài giữ quyền này cho đển khi Đức Cha Louis Néez được tấn phong giám mục hiệu tòa Céomanie, Đại diện Tông tòa địa phận Tây vào năm 1739. Ngày 26/11/1744, ngài được Đức Thánh Cha Bênêđictô XIV đặt làm

Khâm mạng Tòa Thánh tại Đàng Trong, Cao Miên và Chiêm Thành để dàn xếp về việc phân chia địa bàn hoạt động cho các cha Dòng Tên, Hội Thừa Sai Paris và Dòng Phanxicô, cũng như giải quyết về vấn đề “nghi lễ Trung Hoa”, tức việc tôn kính ông bà tổ tiên và các danh nhân theo lối Á Đông. Ngài cũng là người xin đề nghị Tòa Thánh mở án phong Thánh cho 4 đấng giảng đạo Dòng Tên chịu tử đạo năm 1737 và 2 đấng giảng đạo Dòng Đaminh chịu tử đạo năm 1745.

Xin nói thêm về sứ vụ của Dòng Thánh Âu Tinh của tại Đàng Ngoài: năm 1701, theo lời mời của Đức Cha Cao, cha Giovanni Mancini di San Agostino thuộc Dòng Thánh Âu Tinh Cải Cách hay Dòng Thánh Âu Tinh Đi Chân Đất (O.A.D.) gốc Ý Đai Lợi, từ Phước Kiến sang Đàng Ngoài truyền giáo, trên tàu chở các cha Tri và cha Bá của dòng Đaminh. Sau 5 tháng học tiếng, năm 1702, ngài được cử coi sóc giáo đoàn tại xứ Kẻ Sặt và Kẻ Vân (Đan Chàng). Trong thời gian coi sóc giáo đoàn tại đây, cha Mancini đã thiết lập được 80 họ giáo và một chủng viện đào tạo tu sĩ Dòng Âu Tinh bản xứ tại Kẻ Vân. Vậy có tổng cộng 12 thừa sai Dòng Âu tinh đã đến Đàng Ngoài, trong đó Đức Cha Hy phục vụ đây lâu nhất với 33 năm

Hoa trái của Dòng đã được trổ sinh dồi dào khi trong gần 60 năm hoạt động tại Đàng Ngoài, nhà dòng đã sản sinh cả thảy 6 linh mục người Việt là tu sĩ Dòng Âu Tinh, trong đó có ít nhất hai linh mục là người con quê hương địa phận Thái Bình bây giờ: cha Agostino Maria di San Roberto O.A.D., thế danh Antôn Đăng, sinh khoảng năm 1700 tại Kẻ Vân, đã theo giúp cha Mancini khi còn là thầy giảng. Năm 1725, Người qua Ý với cha Roberto di Gèsu è Maria, và có lẽ ngài là tu sĩ người nước Nam đầu tiên được gửi du học tại Rôma. Ngài đã được khấn dòng Âu Tinh tại Rôma và được Đức Thánh Cha Bênêđictô XIII phong chức linh mục năm 1726. Năm 1727, ngài về nước, và có qua Rôma một lần vào năm 1754. Ngài đã qua đời vào năm 1764 tại Kẻ Riền. Tiếp đó là cha Alipio di San Adriano O.A.D., thế danh Giuse Khôn, sinh tại Kẻ Vân năm 1718, chịu chức linh mục bởi Đức Cha Hy ngày 15/09/1754, và hai tháng sau được khấn dòng ngày 01/11/1754 tại Kẻ Vân. Cha Alipio là ký lục cho Đức Cha Hy trong chuyến kinh lược Đàng Trong, khi Đức Cha được đặt làm Khâm mạng Tòa Thánh

Công đồng Lục Thủy và việc ấn định quyền tài phán của Dòng trên địa phận Đông

Tuy nhiên, vì lòng nhiệt thành cho sự nghiệp truyền giáo của Dòng Âutinh tại Đàng Ngoài, Đức Cha Hy đã có những quyết định gây mất lòng với anh em Dòng Đaminh. Trước tiên, ngài đặt Tòa Giám mục tại Lục Thủy Hạ là địa hạt Dòng Đaminh đang có tranh chấp từ thời Đức Cha Tri. Tiếp đó, ngài bắt đầu đặt các cha Dòng Âu Tinh đến nhận các xứ vốn dĩ được trao hoặc được tạo dựng bởi Dòng Đaminh. Năm 1743, Đức Cha yêu cầu cha chính Pedro Ponsgrau Đăng O.P. giao họ Kẻ Bái thuộc xứ Lai Ổn về cho cha Girolamo Capellani di San Filippo Neri O.A.D. Để muốn giữ bầu khí hòa hảo giữa anh em liên dòng, nên cha chính Đăng đã đồng ý. Hai năm sau thì các đấng ấy lại xin cho coi toàn xứ Lai Ổn, thì cha chính Đăng vẫn đồng ý, với điều kiện là sau này khi cha Girolamo qua đời, thì địa hạt ấy sẽ về lại Dòng Đaminh. Tuy nhiên đến năm 1749, Đức Cha lại yêu cầu cho Dòng mình coi xứ ấy lâu dài hơn, cùng yêu cầu nhượng thêm vài xứ của Dòng Đaminh trong địa phận Đông, và giao quyền tài phán với nhà phước Mến Thánh Giá về cho Dòng Âu Tinh, với lý do dòng Đaminh bị cáo buộc cưỡng ép các chị em nhà phước phải cải sang nhà phước Dòng Ba Đaminh, và trên thực tế có một số nhà không bằng lòng nên đã kêu nài Đức Cha địa phận Tây xin cứu giúp.

Các cha dòng Đaminh không đồng ý, nhất là địa hạt Lai Ổn là nơi mà các cha Dòng Đaminh, với vị thừa sai tiên khởi là Đức Cha Thập đã coi sóc từ khi mới khởi sự. Chính vì các sự ấy, nên tình hình ngày càng căng thẳng hơn, khi cả hai bên đều dùng luật lệ lẫn thói đời để đương đầu với nhau. Sau cùng, từ ngày 24/06 đến ngày 23/07/1753, Công đồng Lục Thủy đã được diễn ra, trải qua sáu phiên họp, nghị quyết chung đã được đưa ra, dầu rẳng không mấy ai hài lòng cả, nhất là cha Santiago Hernandez (Tuấn) O.P. là đại diện duy nhất của Dòng Đaminh trong công đồng với nhiệm vụ bảo vệ cho dòng trong công đồng. Sau khi Công đồng hoàn tất, cha chính Lorenzo Maria Della Concezione và cha Agostino Maria Đăng sang Rôma để đệ trình bản nghị quyết Công đồng Lục Thủy. Để bảo vệ quyền lợi cho dòng, cha Tuấn cũng đã lên đường sang Rôma.

Trong thời gian này, Đức Cha Hy đặt cha Adriano Sala di San Tecla (Tri) O.A.D. làm cha chính. Cha chính Tri được cho là một người cứng rắn hơn Đức Cha Hy trong việc mở rộng địa bàn truyền giáo của Dòng, không nhân nhượng kiêng nể các cha Đaminh, nên ngài không được lòng các cha Đaminh cho mấy.

Đức Cha Hy đã tạ thế ngày 31/03/1754 tại Lục Thủy Hạ. Xác ngài được an táng tại nhà thờ Lục Thủy Hạ, tức nhà thờ Liên Thủy. Ngày 06/01/2022, khi đào móng để nâng nền nhà thờ Liên Thủy, giáo xứ đã phát hiện được hài cốt của Đức Cha chôn ở gian ba nhà thờ.

Sau khi cha Tuấn đến Rôma và trình bày hợp lý về sự việc và quyền lợi của Dòng lên Thánh Bộ Truyền Giáo, ngày 15/05/1757, Thánh Bộ đã ra quyết định như sau: địa hạt Lục Thủy và Lai Ổn sẽ phải trả về cho Dòng Đaminh, còn địa hạt Kẻ Sặt và Kẻ Vân sẽ trao cho Dòng Âu Tinh, các nhà phước Mến Thánh Giá thuộc quyền tài phán của cha xứ sở tại, các quyết nghị trong Công đồng Lục Thủy sẽ không được thi hành cho đến khi Thánh Bộ xem xét.

Ba tháng sau, ngày 13/08/1757, Đức Cha Tuấn được Tòa Thánh bổ nhiệm làm giám mục hiệu tòa Hierocaesarea, Đại diện Tông tòa Địa phận Đông, và đặt cha Luis Espinola (Huy) O.P. làm cha chính giám quản cho đến khi Đức Cha Tuấn về địa phận. Cũng trong thời gian này, ngày 27/08 cùng năm, Thánh Bộ Truyền Giáo, với sự phê chuẩn của Đức Thánh Cha Bênêđictô XIV, đã ra sắc lệnh như sau: ra lệnh tất cả các thừa sai Dòng Âu-cu-tinh giao toàn bộ địa phận

Đông cho Tỉnh Dòng Kẻ Giảng Rất Thánh Rôsariô coi sóc và rời khỏi Tunquin. Các linh mục người Annam là tu sĩ Dòng này, một là theo nhà Dòng rời khỏi Đàng Ngoài, hai là nhập Dòng Ông Thánh Dumingô và khấn lại, ba là trở thành linh mục quan triều vâng lời chịu lụy Vít vồ Địa phận.

Như thế, sau khi Đức Cha Tuấn chấp chánh địa phận vào ngày 13/03/1763, các cha thừa sai Dòng Âu Tinh đã rời khỏi Đàng Ngoài, trừ cha chính Tri già yếu nên xin qua địa phận Tây ở với Đức Cha Neéz và đã qua đời năm 1766, cùng các cha người Việt. Kẻ Vân lúc này trở thành một họ tùy của xứ Cao Xá.

Địa phận Đông trong thời kỳ được trao hoàn toàn cho Dòng Đaminh

Khi Đức Cha Tuấn về trấn nhậm địa phận, dù đau bệnh suốt, ngài đã sớm ổn định bổn đạo sau sự rời đi của các cha Dòng Âu Tinh. Trong thời gian này, các cha Đaminh người Việt được đào tạo tại trường Letran ở Manila đã khấn dòng và chịu chức linh mục đoàn, thì đã về lại địa phận Đông phục vụ.

Tuy nhiên vào thời điểm này, việc nhà phước Mến Thánh Giá và nhà phước Dòng Ba Đaminh có sự xáo trộn, bởi lẽ có sự chuyển đổi từ Mến Thánh Giá sang Đaminh, mà theo Đức Cha Jean Antoine OFM. người Ý Đại Lợi, khi được cử làm Kinh lược Đàng Ngoài năm 1762, đã trình báo cáo với Thánh Bộ Truyền Giáo rằng: các chị Mến Thánh Giá trong địa phận Đông bị các cha Đaminh cưỡng bức chuyển dòng, trong khi Đức Cha Địa phận thì bảo rằng các chị em ấy tự nguyện. Vì thế, năm 1764, Thánh Bộ đã ra chỉ dụ như sau: Những ai đã qua Dòng Ba Đaminh rồi thì không phải trở về Mến Thánh Giá nữa để tránh xáo trộn, và nếu tất cả chị em trong nhà phước đồng tâm xin quay về Mến Thánh Giá, và trong khi chờ đợi, các chị Mến Thánh Giá không mặc áo Dòng Ba Đaminh, cũng như không từ bỏ các thói quen của mình, cách riêng việc dạy dỗ các thiếu nữ

Sang ngày 05/03/1787, nhân việc các chị Mến Thánh Giá Bác Trạch, Hạ Linh và Kẻ Hệ gửi một bản khiếu nại lên Tòa Thánh về việc có sự cưỡng ép trong việc 15 chị em nhà phước Trung Lao chuyển sang Dòng Ba Đaminh, Thánh Bộ Truyền Giáo đưa ra quyết định sau: các chị Mến Thánh Giá Trung Lao đã vào Dòng Ba Đaminh, nếu ai muốn về lại Mến Thánh Giá thì tự do, song từ nay cấm các nữ tu chuyển Dòng Mến Thánh Giá sang Dòng Ba Đaminh, nếu bất tuân thì bất thành sự và sẽ chịu hình phạt do Tòa Thánh định.

Sau cùng, trong địa phận Đông khi này chỉ còn ba nhà phước Mến Thánh Giá nằm ở địa phận Bùi Chu bây giờ, là Kiên Lao, Trung Linh và Bùi Chu. Còn các nhà khác thì lại chuyển nhà phước Dòng Ba Đaminh. Chúng tôi không biết các nhà ấy tự nguyện hay bị ép buộc chăng?

Đoạn, Đức Cha Tuấn đã được Chúa gọi về ngày 06/02/1777 tại Bùi Chu, an táng tại nhà thờ xứ ấy.

Sau khi Đức Cha Tuấn qua đời, cha chính Feliciano Alonso (Phê) O.P. được đặt làm giám quản địa phận và làm Cha chính đại diện Dòng tại Đàng Ngoài. Ngài đã coi sóc giáo phận cho đến ngày Tòa Thánh bổ nhiệm cha Manuel Obellar (Khâm) O.P. làm giám mục hiệu tòa Ruspae, Đại diện Tông tòa Địa phận Đông vào ngày 29/01/1778, và Đức Cha Khâm đã được tấn phong giám mục ngày 02/05/1779 tại nhà thờ Trung Linh.

Đây là giai đoạn Đàng Ngoài đang xảy ra những cuộc chiến tranh loạn lạc, trước là việc đoạt vị của các anh em họ Trịnh, tiếp đó là quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ đứng đầu tiến ra Đàng Ngoài, cho nên không ai quan tâm việc cấm đạo hay bắt đạo nữa. Vậy nên, ngay khi còn là cha chính giám quản, cha chính Phê đã đi kinh lý các xứ họ trong địa phận, hóa giải những bất hòa, khuyên bảo giáo dân hãy giữ vững Đức Tin, cũng như nắm bắt hiện tình miền truyền giáo để làm báo cáo nộp về cho Tỉnh Dòng. Từ tháng 08/1779, cha chính Phê đã đi kinh lý các họ Kiên Lao, Quất Lâm, sau ra ngài lên thuyền vào cửa Ba Lạt để kinh lý các xứ họ trong địa phận Thái Bình là Kẻ Mèn, Bác Trạch, Đồng Quan, Kẻ Hệ…

Phần Đức Cha Khâm, ngài là một vị mục tử thánh thiện đến mức người ta nói rằng từ khi ngài bí tích rửa tội, ngài chưa bao giờ đánh mất ân sủng. Ngài đã lèo lái địa phận trong vòng 10 năm, đã thăm viếng và ban bí tich thêm sức cho toàn địa phận không chỉ một mà nhiều lần. Đoạn, Đức Cha đã được Chúa gọi về ngày 07/12/1789 tại Bùi Chu.

Sau khi Đức Cha Khâm qua đời, cha chính Phê lại một lần nữa được đặt làm Tổng quản Địa phận cho đến khi Tòa Thánh bổ nhiệm cha chính Phê làm giám mục hiệu tòa Fesseë, Đại diện Tông tòa Địa phận Đông, song hai năm sau thì ngài mới nhận được sắc. Ngày 10/03/1793, ngài được Đức Cha Jacques Longer (Gia) địa phận Tây phong chức giám mục tại nhà thờ Trung Linh. Dưới thời Đức Cha Phê, địa phận ngày càng tăng trưởng về số bổn đạo, các tu sĩ Dòng Đaminh người Việt thêm gia tăng. Ngài đã ban nhiều thư chung riêng cho hàng giáo sĩ, thầy giảng, nữ tu và bổn đạo để giữ đạo cho đúng lề luật.

Ngày 11/02/1794, Đức Piô VI đã chọn cha Ignacio Delgado (Y) O.P. làm giám mục hiệu tòa Milopotamos, phó Đại diện Tông tòa Địa phận Đông. Ngày 20/09/1795, Đức Cha Phê đã phong chức giám mục cho Đức Cha Y tại Lục Thủy.

Khi cơn bắt đạo dưới thời vua Cảnh Thịnh xảy đến, ngài ban thư chung dạy các bổn đạo phải xưng đạo vững vàng cách thể nào. Vậy khi ban các thư chung ấy, thì đang lúc là ngài đang đi kinh lý các xứ đạo trong địa phận mình, song le khi ngài đang kinh lý xứ Lai Ổn thì trở bệnh nặng mà qua đời ngày 02/02/1799 tại họ Đồng Bằng về xứ ấy. Khi ngài sinh thì, thì chỉ có cha chính Vicente Bombín (Tăng) O.P. giúp ngài chịu các phép sau cùng. Đức Cha Phê đã được an táng tại nhà thờ Đồng Bằng.

Những giờ phút cuối cùng của các đấng Dòng Tên và Cha Philipphê Bỉnh, nhà văn Ǫuốc ngữ đầu tiên của nước Nam và các xứ họ Thái Bình mà Người đã đến thăm viếng

Lại nói về các đấng Dòng Tên: sau khi Dòng này bị Đức Clementê XIV giải thể năm 1773, các Giêsu Hữu phải có hai lựa chọn: một là nhập vào Dòng khác, hai là làm linh mục triều trong sự vâng lời chịu lụy của giám mục địa phận. Khi Dòng Tên giải thể, có chỉ còn ba thừa sai người Ý được ghi nhận rõ ràng hơn cả là cha Nuncio Orta (An) S.J. và cha Onofrio Villiani (Hậu) S.J. và cha Luis S.J. người thành Milan cùng các linh mục, tu sinh, thầy giảng Giêsu hữu người Việt. Sau cùng, năm 1779, cha Hậu sang Rôma cùng đưa hai thầy Quyền và Thiều sang đó học và chịu chức ở đấy để rồi đưa về nước làm linh mục triều, còn mình thì nhập Dòng Thánh Phanxicô Capuchin tại Rôma và không trở về Đàng Ngoài nữa, Cha Luis thì đã qua đời năm 1787. Vậy khi ấy chỉ còn cha cố An ở Lác Môn cho đến khi ngài qua đời cuối năm 1799.

Về các địa hạt của Dòng Tên, Đức Cha Phê tự do bổ nhiệm các cha xứ về coi sóc, bất kể triều hay Dòng, Đaminh hay Giêsu hữu, lại thêm những việc không thỏa đáng với gia nghiệp Dòng Tên gầy dựng lâu năm. dẫn đến sự bất mãn từ Giêsu hữu cho đến bổn đạo được coi sóc bởi Dòng Tên. Như việc Đức Cha Phê ban đầu tính đặt cụ Đẩu về Bùi Chu coi sóc bổn đạo, nhưng cụ này không chịu, nại cớ rằng khi trước mình làm thầy cả có ý giúp Dòng Tên, mà nay Dòng này vỡ, nên thà Đức Cha cho về coi xứ thuộc Dòng Tên trước kia, còn không thì cho nghỉ vậy. Đức Cha Phê không hài lòng nhưng không trách phạt lỗi đức vâng lời gì, trái lại đặt cụ Đẩu về coi xứ Cao Mại, còn cụ Diễn già yếu đang ở xứ Cao Mại thì về xứ Quần Anh và Làng Gòi (Sa Châu) giúp cố An, mà hai xứ này thì bổn đạo đông quá, hai cha làm phúc không xuể15.

Trong số ấy phải kể đến linh mục Philippe de Rosario Nguyễn Văn Bỉnh, sinh năm 1759 tại Địa Linh, Hải Dương (nay thuộc giáo xứ Xuân Điện, giáo phận Hải Phòng). Cha không phải là Giêsu hữu, song là học trò của Dòng Tên, vì năm 1775 đi ở nhà thầy với cha Dòng Tên là Luis S.J. và theo giúp cha này khắp nơi trong xứ Đông và xứ Nam. Ngài chịu chức linh mục ngày 30/11/1793 sau khi học tại Trung Linh, cùng với 2 thầy là học trò Dòng Tên là cha Duệ và cha Triệu, chính là cha thánh Emmanuel Nguyễn Văn Triệu tử đạo. Sau đó, cha Bỉnh được đặt làm giữ việc tại Nhà Chung Bùi Chu, trong khi cha Duệ được bổ đi xứ Trung Lao, cha Triệu đi xứ Kiên Lao, là các xứ vốn của Dòng Đaminh. Điều này cha Bỉnh không bằng lòng, vì trước kia các đấng trong Dòng Đaminh đã thỏa thuận là sẽ đưa các thầy về coi các bổn đạo trước kia do Dòng Tên coi sóc.

Cha Bỉnh từ lâu ấp ủ chuyện đi Tây để vận động tái lập Dòng Tên tại nước Nam, cùng xin cho một giám mục chánh tòa, vì ngài không muốn bổn đạo phải chịu lụy Đức Cha dòng Đaminh là Đại diện Tông tòa nữa. Vì thế, sau khi chịu chức linh mục, cha Bỉnh liền toan tính đến việc ấy.

Trước đó, trong dịp Tết năm 1794, cha Bỉnh xin cha chính Y đi xứ Đông thăm Đức Cha Phê đang đi kinh lý, nhân tiện xin dâng lễ tạ ơn và cầu cho tổ tiên ở quê nhà Xuân Điện nữa. Dọc đường, ngài đã đi qua xứ Cao Mộc, trước kia cha Quyền là thầy cả được cha cố Hậu đưa sang Rôma học rồi chịu chức, rồi khi về thì Đức Cha Khâm chịu khảo ở Trung Linh, sau đó mới được đặt là cha xứ Cao Mộc, và cha Bỉnh cũng có đến thăm cha Quyền ở Cao Mộc vài lần, song lần này thì cha

Quyền không còn ở Cao Mộc nữa, vì xứ này hãy còn hoài vọng Dòng Tên quay trở lại, nên vẫn giữ lề lối Dòng Tên, nên Đức Cha cho là không vâng lời. Vì cha Bỉnh bị hàng xứ Cao Mộc ngăn trở không cho nghỉ đêm, nên ngài sang xứ Kẻ Hệ nghỉ đêm tại đó, đoạn trẩy sang Xứ Đông. Khi yết kiến Đức Cha và dâng lễ cầu cho ông bà tổ tiên bên đó đoạn, ngài về lại xứ Nam, về họ Thượng Miên (nay là giáo xứ Thượng Phúc) ở mấy ngày, rồi qua thăm cha Đẩu vốn là học trò Dòng Tên, hiện đang coi xứ Cao Mại, song ngài không ở họ nhà xứ, nên cha Bỉnh phải rảo qua các họ thuộc xứ ấy là họ Đồng Cống (nay là xứ Dương Cước) rồi họ Đồng Mây (nay là xứ Đồng Vân), cuối cùng đến họ Kẻ Bặt (nay là xứ Thân Thượng) thì gặp cha Đẩu đang ở đó

Đến ngày 19/03 thì cha trả sổ lễ cho cha chính Y ở Phú Nhai, rồi sang hôm sau bỏ nhiệm sở Bùi Chu mà đi bàn tính với hàng phủ về việc mình làm. Sang tháng 5 thì ngài cũng có đến Kẻ Bặt và Cao Mộc nữa18.

Ngày 24/09/1794, cha Bỉnh cùng thầy Ngần và thầy Liễn trốn Đức Cha Phê đi bộ qua nước Tàu bằng ngả An Lang, trực chỉ Áo Môn để xin giám mục nơi ấy can thiệp. Đến ngày 27/10 thì hiệp cùng với các thầy

Trung, Nhân, Lịch đã qua đó trước, cùng một ý như vậy. Song le khi đến đó thì Đức Cha Áo Môn cùng các đấng bậc ngăn trở, nên cha Bỉnh toan đi sang Goa mà thưa chuyện với Đức Tổng Giám mục Goa Manuel de Santa Catarina là Khâm mạng Tòa Thánh miền Viễn Đông, song cha Bỉnh gặp sự ngăn trở nên không qua đó được, bèn cử thầy Liễn và thầy Nhân đi qua đó.

Sau đó, cha nghĩ rằng: nếu không qua Goa được thì qua Lisbon luôn, rồi xa hơn là đi Rôma gặp Đức Thánh Cha, nhưng vì kinh phí cho chuyến đi này rất lớn, nên ngài cần phải về chuẩn bị. Vậy nên, tháng 01/1795, cha Bỉnh rời Áo Môn đi về An Lang, rồi từ An Lang đi thuyền về nước vào rằm tháng 3 năm ấy. Trong 10 tháng ở Đàng Ngoài, cha Bỉnh đã thăm viếng bổn đạo độ 60 xứ họ trong địa phận Tây và địa phận Đông, trong đó có các xứ trong địa phận Thái Bình ngày nay. Sau khi thăm cố An ở Lác Môn và đi thăm các họ trong Hải Hậu và Giao Thủy, thì người qua Kẻ Mèn, rồi lên Kẻ Bặt ở với cha Đẩu, sau đó xuống Đồng Cống đổi tiền rồi về ở họ Cam Đường (nay là giáo xứ Cam Châu) để nhờ một giáo dân dẫn lên Phủ Thái mua vải. Sau khi ở Cam Đường ít lâu, ngài đến thăm một họ đạo gần chợ Bái (tức giáo họ Lễ Thần) qua ngả Bích Du và San Đường (tức giáo họ Sơn Thọ) và ở đó, sau đó đi thăm họ Kẻ Dù (?) và họ Hoành Từ, sau đó sang Cao Mộc rồi lên xứ Đông mà thăm nhiều họ ở đó.

Đoạn người quay về Cao Mộc rồi đi thăm bổn đạo các họ Kẻ Neo (Bất Nạo), họ Thượng Miên (Thượng Phúc), họ Kẻ Lan (Quang Lang?), họ Vạn Đồn, họ Quảng Nạp và họ Vân Am. Đoạn ngài qua họ Bích Du và họ San Đường (Sơn Thọ) bên kia sông Diêm Hộ, là làng con chiên chưa có Chúa (làng lương) mà đi rửa tội cho các trẻ trong họ ấy

Tháng giêng năm Bính Thìn (1796), vào Mùa Chay, cha Bỉnh trở lại Áo Môn, nhưng bị giám mục sở tại ngăn cấm, buộc cha phải về lại nước Nam, nếu không sẽ nộp cha vào ngục. Vì thế, ngày 06 tháng giêng năm ấy, cha Bỉnh cùng thầy Trung, Nhân, Ngần trốn Đức Cha Áo Môn đi tàu sang Lisbon.

Sau cùng, các đấng ấy không đạt được ý nguyện, và cũng còn có một ai trở về Đàng Ngoài nữa, mà đều tạ thế lần lượt ở nơi đất khách quê người. Trước khi tạ thế, năm 1822, cha Philiphê Bỉnh đã viết nhiều sách bằng chữ Quốc ngữ, trong đó có những cuốn có giá trị khảo cứu về lịch sử và ngôn ngữ. Người hằng mong muốn một ngày kia sẽ có ai đọc được mà in sách giúp mình, song đến năm 1968, tức gần 150 năm, thì mới có cha Thanh Lãng phát hiện được cuốn Sổ sang Chép các việc trong Thư viện Vatican mà giới thiệu đọc giả

TRONG CƠN TÔI LUYỆN

Các sự bách hại mà các đấng Dòng Tên cùng bổn đạo phải chịu

Cũng theo dòng chảy lịch sử của Hội Thánh Việt Nam, cơn cuồng phong bách hại đạo Thánh Chúa trên đất phủ Thái và phủ Khoái khiến cho các tín hữu phải chịu rất nhiều khổ cực và đau thương. Thế nhưng, cơn bắt bớ ấy không làm cho Đạo Thánh Chúa bị tan rã, không làm cho các tín hữu phải run sợ mà bỏ đạo, nhưng lại làm cho Tin Mừng Chúa được trổ sinh, lại khiến cho những người nông dân, ngư phủ, thợ thuyền hiền lành chân chất trở nên trung thành can đảm hơn bao giờ hết. Cánh đồng Thái Bình – Hưng Yên không chỉ là những cánh đồng lúa chín vật chất, nhưng còn có cả cánh đồng Đức Tin được tưới bởi màu đào của các chứng nhân anh hùng.

Vậy trong thời Lê Trung Hưng này thì sự cấm đạo lúc ngặt lúc buông, tùy thuộc vào thái độ của chúa Trịnh và quan lại nữa. Phần lớn lý do Chúa Trịnh cấm đạo vì lo sợ ảnh hưởng của giáo lý đạo Hoa Lang sẽ nguy hại cho rường cột Nho Giáo và phong hóa xứ sở, rồi một mai kia họ kích động dân chúng làm phản chăng. Còn quan lại bắt bớ, phần là do theo lệnh Chúa, phần là nhân cớ đó mà trấn lột của cải châu báu của bổn đạo. Một số kẻ cũng vì ý không ngay lành, hoặc hiềm tỵ ghen ghét, nên đã xuyên tạc, bôi nhọ giáo lý cùng tư cách các thừa sai. Chính vì thế, khi mới giảng đạo, các đấng bậc Tây dương, có lúc thì được Chúa Trịnh đối đãi nồng hậu, có lúc thì trục xuất, xấu hơn thì bị lùng sục bắt bớ, đến mức phải ẩn mình đi tại các xứ họ, trong đó có một số xứ trong phủ Thái. Gần như các đấng thừa sai được kể ở phần trên đều phải trải qua những cơn truy lùng khổ sở trăm bề.

Về các đấng Dòng Tên: Ngày 19/04/1669, có 4 Giêsu hữu là cha Domenico Fuciti S.J., Filippo Fieschi S.J., Baltasar da Rocha S.J. và một tu huynh Ignacio Martins S.J. người Đàng Ngoài theo tàu buôn Bồ Đào Nha từ Áo Môn đến cửa sông tại Đàng Ngoài, song phải chờ để quan xét tàu và đợi lệnh chúa Trịnh. Lại trong lúc đó, Tây Định Vương Trịnh Tạc đang để tang mẹ là bà Phùng Thị Ngọc Đài, vương phi Chúa Trịnh Tráng. Lúc này cha Fuciti và thầy Martins mặc áo thường dân, còn cha Fieschi và cha Rocha mặc áo

dòng, lại khám xét thấy đồ đạo, nên quan bẩm báo Chúa Trịnh rằng tàu buôn này có chở đạo trưởng và đồ đạo, nên Chúa truyền tàu này phải dừng ở Phố Hiến để khám xét cùng canh chừng cẩn mật. Do cha Fuciti và thầy Martins mặc áo thường dân nên đã lẻn xuống tàu và được bổn đạo đón đi, còn hai đấng mặc áo dòng thì không được xuống tàu. Vậy tháng 05/1669, trên đường từ Thanh Hóa lên Kinh Đô, khi đi ngang qua Phố Hiến, thì Chúa truyền đem các thùng đồ do cha giám sát Dòng Tên tại Trung Hoa Luis de Gama tặng, rồi tịch biên các đồ phụng tự, đem lên kinh đô. Khi đọc thư của cha Gama xin cho các đấng được giảng đạo tại Đàng Ngoài, Chúa Trịnh tức giận, truyền trả lại các thùng đồ cha Gama tặng, quản thúc các thầy đạo tại Phố Hiến chờ ngày tàu Áo Môn rời đi sẽ đem các đấng ấy đi, đem tất cả các đồ đạo về Phố Hiến để đốt. Chúa Trịnh nói rõ là: lần này sẽ không xử tử các đấng, nhưng nếu có lần sau là sẽ chém đầu.

Ngày 04/03/1673, có cha Manuel Feirrera S.J. và cha Francisco Pimentel S.J. người Bồ Đào Nha đi tàu Áo Môn cập bến Phố Hiến, có cha Filippe Marini S.J. đến đón. Cha Marino bảo hai cha này mặc áo lái buôn vào rồi ở Phố Hiến với mình, để chờ dịp giảng đạo. Song le có hai thằng buồm lạt ở tàu Áo Môn mới đi tố cáo cho quan trấn rằng: có hai Tây dương đạo trường mặc áo lái buôn để ở lâu dài trong nước này. Vậy quan này mới báo cho Chúa Trịnh, thì chúa bảo là đưa ba đấng ấy lên Kẻ Chợ. Các đấng nghĩ rằng mình sẽ được phước tử đạo, mà dọn mình sốt sắng. Đến nơi, thì chúa Trịnh sai một quan bắt ba cha, đóng lòi tói hai cha Feirrera và cha Pimentel, và đóng cùm chân tay cha Marini, song khi cha Marini xin cho mình cũng được đóng lòi tói nơi cổ và hai tay, thì quan ấy tưởng cha sợ mà mất trí, nên tháo cùm ra. Phần hai cha bị xích lòi tói, hai cha bị đánh đòn rất dữ, lấy kìm sắt nung đỏ ra dọa, cùng nói rằng sau 4 ngày không xưng ra thì chết. Bấy giờ có Đức Bà (vương phi) trong Phủ Chúa biết tin, thì sai quan Nội giám nói rằng bà là người bảo trợ cho các người Bồ Đào Nha, sao lại đi tra tấn các đấng Bồ như thế. Quan ấy nghe thế liền sợ, liền tháo lòi tói, mặc áo cho hai cha, rồi đem hai cha đi giam mà chẳng tra khảo gì thêm. Đến khi tàu Áo Môn kia dỡ hàng xong mà chuẩn bị về nước, thì Chúa Trịnh thả ba đấng này ra mà dặn đừng quay lại nữa, song khi xuống Phố Hiến thì các bổn đạo đã đem các cha đi ẩn trong xứ họ mình.

Sang mấy lần sau thì các đấng làm kín kẽ hơn: ngày 15/04/1694, cha Isidoro Lusi S.J. cùng hai đấng khác đi tàu Áo Môn mà cập bến Phố Hiến, có cha Francisco Nogueira, Jacobe Vidal và João de Sequeira ra đón. Các đấng trên tàu mặc áo lái buôn từ trước, thay vì đến rồi mới thay, để khỏi ai biết mà tố giác, cũng như đem đồ đạo xuống trước, để quan khỏi lùng sục. Lại trong kỳ bắt đạo nầy, thì trong thư của Đức Cha Deydier năm 1684 có thuật lại hai sự biến tại hai xứ sau:

Trong làng Hệ, nơi có một ngôi nhà thờ và phần lớn là người có đạo, có một viên quan được ban chức tước cao trọng trong triều đình. Y được vua trao quyền giữ tô thuế trong vùng về cho mình. Vậy khi biết tin từ một kẻ phản bội được y ban chức tước, rằng trong làng Kẻ Hệ có một ngôi nhà thờ, y đã sai binh lính dưới quyền đến nhà thờ mà tịch thu các đồ trang trí bàn thờ, ảnh tượng, Thánh giá, chân đèn và các sách đạo. Khi biết tin, bổn đạo trong làng, đông hơn số binh lính, chạy đến để giành giật các đồ phụng tự, đến mức có hai bính lính đã bị xé áo, song bổn đạo vẫn không giành lại được. Sau khi chúng cướp được các đồ đạo, chúng đã đem cất tại nhà trưởng làng và trở về với ông quan kia. Sau khi các đồ đạo bị cướp, những bổn đạo có thế giá đã mang một con lợn, mấy thúng gạo cùng tám ngàn đến mười ngàn đồng nhằm xoa dịu y và xin chuộc lại các đồ đạo mà y đã lấy. Dầu rằng y chấp nhận những quà tặng này, y vẫn sai một số lượng lớn binh lính dưới quyền đến quấy nhiễu bổn đạo trong khoảng 3-4 tháng, cùng cướp gà của họ. Vậy bổn đạo, dù rất nghèo, nhưng mỗi người cũng cố gắng góp tiền, hai ba lần, để nộp cho tên tên quan kia. Nhưng dưới sự xúi giục của y, đám lính này đòi hỏi số tiền cao hơn, hoặc phải buộc bỏ đạo và nhà thờ phải bị đốt. Đến lúc này họ không chịu nổi nữa, nên họ đã nói rằng họ không còn cái gì để đóng nữa, còn chuyện họ là người có đạo hay không thì là chuyện quan trấn xử trí, không đến lượt tên quan kia. Lại trong lúc đó có một bổn đạo đã khôn ngoan lấy lại Thánh giá cùng đồ đạo bị cướp bữa trước, nên khi tên quan độc ác kia biết tin, đã sai người cùng viên thơ lại của mình lên quan trấn Nam để tố cáo việc ăn trộm và dựng nhà thờ trái phép. Vậy quan trấn đã sai thuộc cấp mình lẫn thuộc hạ của tên quan địa phương xuống điều tra về các đồ bị đánh cắp, cùng đo đạc nhà thờ xem thế nào, và khi điều tra xong, thì những người này trở về dinh trấn. Cùng đi lên dinh trấn có 29 trên hơn 100 bổn đạo trong làng Hệ, mà trong số họ có 4-5 cụ già yếu quá đến mức con cháu phải khiêng cáng vác các cụ đi, dầu rằng chỉ mất nửa ngày đường từ làng lên dinh trấn. Vậy khi bổn đạo đến trước công đường, thì họ đã trình đơn khiếu nại của mình, do Đức Cha và các đấng thừa sai soạn giúp, với những lời lẽ sau: Chúng tôi là bổn đạo ở làng Hệ kính trình quan lớn xin phép cho thảo dân mạo muội bẩm báo vài điều sau: chúng tôi đã theo đạo Thánh Đức Chúa Blời từ khi các thầy nước Bút-tu-ghê rảo khắp nước ta để giảng đạo, với phép của Chúa Thượng rõ ràng. Lại thêm nhà thờ mà chúng tôi đọc kinh xem lễ chẳng phải do chúng tôi dựng, song nhà ấy được cất bởi một ông giàu có mặc bịnh hiểm nghèo, cầu cậy thần phật bùa chú nơi này nơi kia mà chẳng khỏi, bấy giờ ông ta đã khấn với Đức Chúa Blời rằng: nếu Đức Chúa Blời thương cho tôi được mạnh, thì tôi sẽ cất một nhà thờ kính Đức Chúa Blời. Vậy khi Đức Chúa Blời đã thương ông này mà cho ông khỏi bịnh, thì ông ấy đã làm như vậy. Nay thì ông này đã chết nhiều năm trước rồi. Vậy trong nhà thờ, chúng tôi tụ họp nhau mà cầu Đức Chúa Blời khứng ban cho vua chúa, quan trấn, bá hộ và toàn thể đất nước luôn mạnh khỏe và giàu có mà chớ. Sau đó, họ còn kể thêm những sự quấy nhiễu mà binh lính đã gây ra, đặc biệt là những sự lạm quyền của viên quan thuộc cấp tại địa phương. Vậy khi đọc xong đơn ấy, thì quan trấn rất tức giận và ra lệnh trừng phạt nặng nề những kẻ lạm quyền, song quan cũng khiển trách bổn đạo vì theo đạo Hoa Lang, và theo sắc lệnh cấm đạo của triều đình, thì nhà thờ Kẻ Hệ sẽ phải bị đốt, mặc dù Đức Cha đã viết đơn phản đối. Tuy vậy, việc thiêu rụi nhà thờ Kẻ Hệ đã phải diễn ra y lệnh, đến mức bổn đạo muốn xin lại mấy hàng cột gỗ lim trong nhà thờ cũng không được. Tuy nhiên sau đó, một ông trùm trong họ giáo đã lấy căn nhà cũ kỹ của mình để xây một ngôi nhà thờ mới và nới rộng đáng kể hơn

Một câu chuyện khác ở làng Riền (nay là giáo xứ Duyên Lãng): ở Kẻ Riền có một ngôi nhà thờ do ông lang y Phaolô là một tín hữu sùng đạo dựng nên để cho bổn đạo đọc kinh xem lễ, và chính ông cũng trông coi nhà thờ này. Vợ ông cũng đã dựng một ngôi nhà cho các chị em Mến Thánh Giá. Sau khi vợ ông mất, thì ông đã ở vậy suốt 10-12 năm. Bấy giờ Đức Cha cùng các đấng giảng đạo đang ở Phố Hiến biết rằng quan trấn Nam đang lùng bắt cha Vitô Tri đang coi sóc bổn đạo vùng đấy, nên đã cảnh báo cha Vitô cùng bổn đạo trong vùng hãy cẩn thận, song trước đó đã có một tên gián điệp đã thấy cha Vitô đến Kẻ Riền, nghĩ rằng cha sẽ ở đó vài ngày, nên nó đã báo cho quan xuống Kẻ Riền lùng bắt. Trên thực tế, cha Vitô Tri chỉ đi ngang qua Kẻ Riền một lát chứ không ở đó. Vậy khi đến làng ấy, đang lúc có một kỳ mục trong làng này đi ra ngoài có công chuyện, thì thằng gián điệp quả quyết đó là cha Vitô Tri, vì ông này cao ngang với cha Vitô và cũng có nốt đậu mùa giống cha ấy, nên nó chỉ điểm cho lính bắt ông này. Sau đó, chúng trực chỉ đến nhà ông Phaolô, tưởng là sẽ thấy một ngôi Thánh đường nguy nga, ai dè khi vào nhà thì chỉ thấy là một hiệu thuốc, một bên toàn thuốc men với dụng cụ bào chế, một bên thì để đồ nông cụ như cái cày, cái cối… bởi vì ông Phaolô đã biết trước, nên đã tàng hình nhà thờ cùng bảo người đem giấu các đồ đạo đi, cho nên đám lính ai cũng hụt hẫng. Khi tên gián điệp dẫn binh lính qua nhà phước chị em Mến Thánh Giá, thì chúng sững sờ vì chỉ là nhà trống không, bởi các chị em khi nghe tin quan quân sắp đến lùng bắt, thì đã bỏ chạy đi hết. Song le chúng lại tìm được hai cuốn sách đạo mà các chị em đánh rơi khi bỏ chạy, nên tên gián điệp cũng quả quyết ông Phaolô là một đạo trưởng, vì nó cũng thấy ông thường khuyên nhủ các bệnh nhân hãy trở lại đạo. Vậy đám lính kia, cũng không nhiều lời, bắt giữ ông ấy, cùng đóng gông và giải lên dinh trấn. Vậy khi hai ông bị giải lên trước quan trấn Nam, thì tên gián điệp vẫn khăng khăng là đã bắt được hai đạo trưởng, trong khi hai ông kia chỉ nhận mình là bổn đạo, chứ không nhận mình là đạo trưởng. Những người dân làng đi theo ông lên trên Hiến cũng kịch liệt phi bác, họ đều khẳng định các ông này là bậc trưởng thượng trong làng, đã có vợ con và thậm chí có cả cháu nữa. Khi quan trấn nghe những lời này, thì nổi cơn thịnh nộ với tên gián điệp kia vì dám bắt người xằng bậy, đến mức ông ta muốn đánh đòn nó, song quan chỉ truyền rằng từ rày về sau cấm các quan dưới quyền thuê nó nữa. Phần hai ông kia, vì đã nói rằng mình theo đạo Chúa là đạo cấm, lại phát hiện có hai cuốn sách đạo trong nhà, nên mỗi ông bị xử phạt 9-10 quan tiền rồi cho về nhà

Các sự bách hại mà các đấng Dòng Đaminh và bổn đạo cùng phải chịu

Năm 1712 An Đô Vương Trịnh Cương ra sắc chỉ cấm đạo ngặt như sau: người nào biết có người theo đạo Gia tô được phép tố cáo; người theo đạo ấy sẽ phải cắt tóc trên đỉnh đầu, thích vào mặt bốn chữ “học Hoa lang đạo” và phát 100 quan tiền để thưởng cho người tố cáo. Vậy trong kỳ này, đồ đạo cùng sách vở bị đốt phá, các nhà thờ bị triệt hạ, chỉ riêng Kẻ Sặt vì nhìn nhận như tư gia nên mới thoát nạn, song ngày 17/01/1713 thì ngôi nhà thờ ấy đã bị hỏa hoạn lúc đêm. 304 bổn đạo đã bị bắt, nhưng họ can đảm xưng đạo Thánh, nên phải chịu thích tự vào má. Trong kỳ này, Đức Cha Bourges địa phận Tây, Đức Cha phó Bélot và cha Gusain người Pháp bị lệnh trục xuất. Thế nhưng, những điều ấy chẳng làm thui chột lòng nhiệt thành truyền giáo của các thừa sai. Vì bổn đạo sợ bị liên lụy nên không dám chứa các đấng trong nhà, cho nên các ngài phải ẩn mình ở khắp nơi: trong đống rạ, cót thóc, ruộng lúa, mồ mả… ban đêm thì xuống thuyền đánh cá mà đi làm phúc bổn đạo, xong xuôi thì lại ẩn mình dưới thuyền hay ở bụi rậm ven sông. Cho nên dù thời ấy khó khăn, nhưng các đấng đã rửa tội cùng ban phép bí tích cho nhiều nơi, với những số liệu đáng kinh ngạc, trong đó vào năm 1715 thì có độ 2500 người bỏ đạo ăn năn trở lại.

Tiếp đó lại có sự này: năm 1720 có thằng học trò nhà tràng tên là Văn Sao quê ở Lục Thủy, vì tâm trí không bình thường nên đã giảng những điều sai lạc, lại nói rằng ơn trên cho mình được làm vua cai trị nước Nam, rồi bỏ nhà tràng đi nơi này nơi kia mà lôi kéo người ta vào nẻo sai lạc. Nó nói nếu ai không muốn sa hỏa ngục thì phải xin biên tên vào sổ nó đang cầm. Không ngờ những lời mê sảng ấy lại đến tai quan, nên quan truyền tống nó vào ngục cùng đánh đòn nó. Ban đầu thấy nó nói những điều xàm ngôn, nghĩ nó bị điên nên tính thả ra, song quan thấy cái sổ nó cứ khư khư trong người, nên quan giật lấy mở ra thì thấy có độ 150 người theo, phần lớn là người Lục Thủy, nên quan mới nghĩ là các đấng Đaminh xúi người ta nổi dậy, nên mới ra lệnh lùng sục cho bằng được. Đức Cha Thập ở Trung Linh và cha Sancta Theresa ở Lục Thủy khi biết tin thì đã phải đi trốn rất khổ sở, trong khi quan truyền lính bao vây hai làng ấy để bắt cho được. Đến sau họ rời đi, thì hai đấng mới trở về hai làng ấy. Dù rằng đây là sự việc do một người bất bình thường gây ra, song việc ấy trở thành cái cớ để triều đình tầm nã các thừa sai.

Tháng 10/1720, cha chính Bá đang ẩn nấp tại Kẻ Hệ, khi biết tin quan quân toan bắt mình, nên dù đang mắc sốt rét nặng, ngài phải nhảy xuống thuyền mà lênh đênh trên sông, do không có nhà nào dám rước cha vào nhà để trốn. Sau cùng có một nhà tân tòng được cha rửa tội mấy năm trước đã liều mình rước cha, mà do bị sốt rét như vậy, nên tối hôm đó cha bất tỉnh mê man chẳng biết sự gì, bổn đạo tưởng cha đã chết nên đến khóc lóc thảm thiết, song le hôm sau đang khi người ta đang đọc kinh cầu hồn cho cha thì tự nhiên cha tỉnh lại và thấy mình đã hết bịnh rồi, thì bấy giờ cha đến an ủi họ. Vì để tránh phiền hà cho nhà người ta, nên khi cha khỏe lại, thì cha xuống thuyền lênh đênh để ẩn mình, chỉ hôm lễ Giáng sinh thì cha mới lên bờ làm lễ mà thôi. Sang đầu năm 1721 thì cha Bá chạy sang Kẻ Sặt, Hải Dương để ẩn nấp, nhưng đến tháng 09 năm ấy thì lại có mụ đàn bà xấu nết bị các đấng không cho rước lễ để có ý sám hối, song nó lại sinh hận mà tố quan rằng là ở đây có thầy đạo Tây Dương. Đang lúc đó có cả Đức Cha Tri, một cha Dòng Tên và một cha Dòng Âu Tinh nữa, nên các đấng phải ẩn mình đi. Song le khi quan quân đến, vì không bắt được các cha, nên đã quay sang cướp bóc rồi rời đi, vì thế bổn đạo nơi ấy không dám chứa cha chính Bá nữa, nên ngài phải chạy qua Kẻ Rèm (An Lập) để trốn mà chẳng ai biết chẳng ai hay.

Đang khi gặp sự khó nơi Kẻ Sặt thì ở Cao Mại có một thằng bỏ đạo tố quan ở trên Kẻ Chợ rằng ở Cao Mại đang chứa chấp cha Francisco de Chaves S.J., vì nó sinh hận với một ông kia hay giúp các giúp các thầy cả ẩn nấp, dầu ông này chưa rửa tội, nhưng vợ con ông này đều trở lại đạo hết rồi. Vậy quan biết tin, mới phái binh lính từ Kẻ Chợ xuống Cao Mại lùng bắt thầy đạo, song le chẳng thấy đâu, nên đã bắt đi nhiều bổn đạo cùng bốn người nhà Đức Chúa Trời.

Ngày 08/12/1721, triều đình cho ra sắc lùng bắt thầy đạo gay gắt lắm, truyền bắt được thì sẽ xử trảm, và lệnh ấy gay gắt đến mức treo thưởng hậu hĩnh cho kẻ nào bắt được thầy đạo, cùng phát hiện đồ đạo chứa chấp trong nhà. Vì thế, cha vội đem đồ đạo cho thầy già Lễ đem đi giấu, rồi nhảy xuống thuyền mà ẩn nấp. Gần đó có cha Juan Ventura (Sĩ) O.P. đang coi xứ Kẻ Riền cũng phải vội vã xuống thuyền đi trốn. Bốn ngày sau đó, cha Bá thấy cha Sĩ đang lênh đênh trên cùng một dòng sông, thì mời cha Sĩ qua thuyền mình, song thuyền chật quá nên hai người chỉ có thể ngồi yên và co chân lại. Hai đấng đã yên ủi và khích lệ nhau, cùng thuật lại các sự mình phải trải qua. Đêm đến, hai đấng giải tội cho các bổn đạo đến với mình. Đến dịp lễ Giáng Sinh, hai cha có thể dâng ba lễ của ngày đó tại các nhà ven sông, cùng ban bí tích cho độ 30 người. Song le đến ngày 27/12, quan truyền cho binh lính khám xét tàu thuyền xem có chứa hay chở thầy đạo không. Trước sự thể nguy nan, cha Bá và cha Sĩ đành chia tay nhau mà về đôi ngả. Cha Bá trở lại Kẻ Rèm trong sự bất ngờ của chủ nhà từng cho cha ẩn nấp, vì không nghĩ là cha sẽ quay trở về đây lần nữa. Vậy cha Bá ở đây rồi làm các phúc trong Mùa Chay cho bổn đạo trong xứ Kẻ Rèm, tiếp đó ngài mua một con thuyền để thăm viếng bổn đạo ở địa hạt Kẻ Hệ, nơi ngài đã phải rời xa trước đó, cho đến tháng 6 năm 1722 thì cha mới về Kẻ Rèm.

Song le trong tháng ấy, có kẻ tố rằng ở làng Cát Đàm gần đó đang có cha Juan Verea (Ven) O.P. đang ẩn nấp ở đó, và quan đã điều 800 binh lính ập vào làng này vào ban đêm và bắt đi sáu bổn đạo, nhưng không bắt được cha Ven vì khi ấy cha đã nấp ở bụi tre rậm rạp trong làng, và phải chịu đói khát trong đấy ba ngày, sau đó vì đói lả, nên cha đành phó thác cho Chúa mà bò ra ngoài, may là có một bổn đạo nhân từ đến giúp cho, đến sau cha phải bỏ Đàng Ngoài mà về Manila. Cha Bá ở Kẻ Rèm gần đó thấy quan quân đang lùng bắt cha Ven, ắt mình sẽ gặp nguy, nên cũng phải vội vàng xuống thuyền chạy trốn, trong cái nắng nóng oi bức của mùa hè tại Đàng Ngoài, khiến ngài khổ sở nhiều lắm. Đến ngày 09/08, cha Bá lại gặp cha Sĩ và cha Juan Pozuelo cũng đang ẩn mình dưới thuyền. Các ngài rất vui mừng vì lại gặp được nhau, và qua hôm sau, các ngài đã dâng lễ Thánh Laurensô trên thuyền cha Sĩ, vì thuyền ấy rộng rãi hơn cả. Sau lễ ấy, cha Jose Valerio, cũng đang lênh đênh trên thuyền, gặp được ba đấng trên trong niềm vui mừng khôn xiết, nhưng các đấng chẳng gặp nhau lâu, vì sau đó phải tách ra để tránh quan quân. Để tàng hình khỏi quan quân khám xét tàu thuyền trên sông, các ngài đã thuê các bà ra chèo thuyền, vì người ta nghĩ rằng các cha sẽ không đi thuyền của đàn bà.

Năm 1722 Công vụ Tỉnh Dòng tại Manila bầu cha Bá làm cha chính dòng, nhưng đến 1724 thì ngài mới nhận được sắc. Vậy cha chính Bá đã đi xuống Nhà Chung Lục Thủy để nhậm chức trong tháng 8 năm ấy, mà sau đó cha chính Bá trẩy đi làm phúc cho các xứ họ trong địa phận, song bị cướp mất đồ lễ, nên ngài phải về Lục Thủy. Lại khi ấy cha Sĩ phải bịnh nặng cũng về nhà chung Lục Thủy, nên sau mấy lần cứu chữa vô phương, cha chính Bá đã làm các phép sau cùng cho cha. Đoạn, cha Sĩ đã được Chúa gọi về vào cuối tháng 08/1724, an táng tại nhà thờ Trung Lễ gần nhà chung Lục Thủy. Sau đó, cha chính Bá đã lấy đồ lễ của cha Sĩ để đi làm phúc ở các xứ họ trong địa hạt Kẻ Vân và Kẻ Hệ.

Ngày 31/01/1725, cha Juan Pozuelo bị bắt, bị giam cầm và bị tra tấn hành hạ, mà có lẽ nếu bổn đạo không đưa tiền chuộc, có lẽ cha đã phải tử đạo rồi. Cha Chính Bá khi ấy đang ở Kẻ Hệ, thì hay tin ấy, cũng phải rời làng mà ẩn mình đi để thoát khỏi những tên gián điệp trong làng ấy đang tìm cách bắt cha.

Cha Thánh Tế và Cha Thánh Đậu chịu tử đạo

Vậy trong kỳ bắt đạo lúc này chưa có đấng Dòng Đaminh phải chịu tử đạo, trong khi Dòng Tên đã có các gương xưng đạo và chịu tử đạo rồi, vì chưng năm 1723 thì có cha Giovanni Battista Messari S.J. đã chết rũ tù ở Thăng Long ngày 15/06, rồi sau đến ngày 11/10 thì cha Francesco Maria Bucherelli cùng chín bạn hữu người nước Nam chịu trảm quyết tại pháp trường Đồng Mơ ở Thăng Long Thành, lại đến ngày 12/01/1737 thì bốn đấng giảng đạo Dòng Tên mới vào nước ta năm ngoái phải chịu xử trảm tại Đồng Mơ là các cha Bartolomeo Alvares S.J., Manoel d’Abreu S.J., Vicente da Cunha S.J. và Johannes Gaspard Cratz S.J., mà có lẽ nếu Dòng Tên chẳng phải chịu sự giải thể, hoặc còn ở nước ta lâu dài, thì có lẽ các đấng kể trên đã được tuyên Thánh rồi. Vậy ta cầu xin Chúa cho các đấng ấy sớm được mở án trở lại, hầu mong ta có thêm những gương anh dũng trong lịch sử Đạo Thánh hào hùng của Hội Thánh nước Nam.

Song le trong số 117 Thánh Tử đạo được tuyên phong hồi năm 1988, thì hai Thánh Tử đạo đầu tiên trong danh sách chính là hai đấng Dòng Đaminh, Cha Thánh Francisco Gil de Federich (Tế) O.P. và Cha Thánh Matteo Alonso Lechiana (Đậu) O.P., vì hai ngài được ơn trảm quyết tại pháp trường Đồng Mơ ở thành Thăng Long vào ngày 22/01/1745. Hai đấng ấy đã từng giảng đạo tại phần đất địa phận Thái Bình bây giờ, cụ thể: Cha Thánh Tế từng đi giảng đạo trong các huyện Trực Định và Vũ Tiên trong 2 năm (1735-1737), cùng làm phúc cho bổn đạo trong xứ Kẻ Mèn và Bác Trạch, và bị bắt khi mới làm lễ đoạn tại Lục Thủy, và bị giải lên Kẻ Chợ. Mang tiếng là tù nhân, song le cha Tế vẫn được cho đi dâng lễ trong thành Thăng Long, vì vua chúa cùng các quan quên mất việc thi hành án. Cha Thánh Đậu từng đi giảng đạo trong các huyện Kim Động, Tiên Lữ, Thần Khê, Thái Ninh, Vũ Tiên độ mười ba năm. Mà cha Đậu phải mấy lần suýt bị bắt, vì hồi năm 1734, khi biết tin cha sẽ về Tiên Chu để cử hành Chúa Nhật Lễ Lá ngày 18/04, thì một thằng trong nhà xứ vì lòng chằng ngay nên đã tố cho quan trấn. Vậy nửa đêm trước Thánh lễ, một toán lính gồm 30 tên ập vào nhà xứ Tiên Chu, tưởng là bắt được cha rồi, ai dè hôm đó cha đang bị sốt nặng ở Trung Lao nên không đến được, nên rốt cuộc vô nhà chẳng thấy thầy đạo Tây dương nào. Vậy nên, chúng bắt một bõ ngãi trong nhà xứ và vài bổn đạo, cùng tịch thu vài đồ đạo đem lên dinh quan trấn. Bổn đạo trong xứ phải mất nhiều ngày và tổn phí nhiều tiền để chuộc người ra. Người cũng có ẩn mình tại Kẻ Hệ rồi Lai Ổn, mà những lần ấy cũng vài lần suýt bị bắt. Sau cùng, năm 1743, thấy Lai Ổn chẳng còn yên, nên Người về Lục Thủy, song le có thẳng trong làng ấy nó đi tố cáo, mà bắt Người trong lúc đang làm lễ tại Lục Thủy. Cùng bị bắt có ba thầy giảng và hai thợ mộc trong làng ấy, đến khi giải lên kinh đô thì chỉ giải cha Đậu và thầy Inhaxiô Quí quê ở Gia Hộ (Diêm Hộ) về huyện Thụy Anh. Trên kinh thành, hai đấng ấy phải ra trước tòa nhiều lần, nhưng đây là dịp để các đấng xưng đạo thật cho người ta. Vậy, khi cha Đậu cắt nghĩa lẽ đạo khiến các quan không thể bắt bẻ được, thì chúng liền quay sang tra tấn thầy Quí bằng đòn roi, cùng ép thầy phải bước qua Thập giá, song le thầy chẳng ngã lòng chối đạo. Đoạn, vua Cảnh Hưng phê chuẩn án trảm quyết cho cha Đậu, phần thầy Quí phải chịu án thảo tượng.

Cha Thánh Gia và Cha Thánh Liêm chịu tử đạo

Tiếp đến hai gương chứng nhân của hai Thánh thừa sai Đaminh, đó là Cha Thánh Jacinto Castañeda Gia và Cha Thánh Vincent Liêm de la Paz, cùng được ơn trảm quyết tại pháp trường Đồng Mơ ở thành Thăng Long vào ngày 07/11/1773. Lại thật vinh dự hơn, vì hai đấng ấy cùng bị bắt khi đang trên đường thi hành sứ vụ tại Thái Bình. Cha Thánh Gia coi sóc bổn đạo toàn phủ Thái Bình, gồm các xứ Lai Ổn, Kẻ Riền, Sa Cát, với 60 làng có đạo cách xa nhau, lại phải trốn sự tầm nã của quan quân, nên ngài phải ẩn mình ở nơi này nơi kia: khi ở Kẻ Riền, khi ở Bác Trạch, khi ở Lai Ổn. Ngày 12/07/1773, khi ngài vừa đi xức dầu kẻ liệt ở làng Xuân Hải (Kẻ Hới) về, đang khi xuôi dòng sông Luộc để về Lai Ổn, khi đi ngang qua làng Quan Khê thì gặp ngay tàu tuần tiễu của quan phủ thì cha đã đỗ vào làng Gia Đạo là một làng ngoại giáo mà nấp trong một nhà nọ, thì thầy Tân là thầy giảng đi với Người đã gửi cho bà chủ nhà này 15 quan tiền, song le chồng bà này biết tin, nên đã tố giác cho lính đến bắt Người. Ban đầu tên chánh tổng Xích Bích giữ người lại, để mong bổn đạo đến đưa tiền chuộc, song le luống công vô ích, nên chúng đã giải cha Gia bị giải lên thành Hưng Yên.

Tượng Thánh Vincent Liêm niên đại hơn 100 năm tại nhà thờ Lương Đống.Nguồn: Giáo xứ Lương Đống.
Tượng Thánh Vincent Liêm niên đại hơn 100 năm tại nhà thờ Lương Đống. Nguồn: Giáo xứ Lương Đống.

Phần cha Thánh Liêm, quê họ Thôn Đông xã Trà Lũ về tỉnh Nam Định, độ non ba tháng sau, ngày 02/10/1773, cha bị bắt tại nhà ông Nhiêu Nhuệ làng Lương Đống khi đang chuẩn bị dâng lễ Đức Mẹ Mân Côi tại đây. Ban đầu, tên chánh tổng Xích Bích cũng nghĩ bổn đạo sẽ đưa tiền chuộc cha, nên nó giam Người trong nhà mình 12 ngày, song chẳng thấy bổn đạo nào tới, nên đoạn nó cũng nộp lên tỉnh Hưng Yên. Vậy cha Liêm đã gặp cha Gia tại ngục Hiến Nam mà hằng mong ngày mình nên của lễ dâng cho Đức Chúa Trời, mà đến ngày 20/10 thì hai đấng bị giải đi Kẻ Chợ mà nộp cho Tĩnh đô Vương để nghe án trảm.

Vậy có lời tương truyền rằng: khi hai cha này bị giải vào kinh, Chúa Trịnh muốn xem lý lẽ đạo Hoa Lang này như thế nào, có hợp với phong hóa nước ta chăng, nên đã mời một nho sĩ, một đạo sĩ và một hòa thượng, tượng trưng cho Tam giáo (Nho, Lão, Phật) và mở cuộc tranh luận giữa Tam giáo và Đạo Đức Chúa Trời, với ba câu hỏi: sinh tự hà lai, tại thế hà như, tử vãng hà sở (sinh ra bởi đâu, ở đời làm gì, chết đi về đâu). Vậy các đấng đạo ta đã đưa ra lời biện giải đanh thép để bảo vệ các lẽ đạo Thánh, từ đó mới có cuốn Hội đồng Tứ giáo, song le chưa chắc chắn rằng liệu cuộc tranh luận ấy có thực sự diễn ra hay không, vì cuốn Hội đồng Tứ giáo phải đến thế kỉ 19 mới xuất hiện, mà trong án tích của hai đấng ấy cũng chẳng thấy nhắc đến chi tiết quan trọng này.

Vậy bốn đấng kể trên đã được làm án từ lâu, đến ngày 27/05/1906 thì thọ bậc Á Thánh đời Đức Piô X, và thọ bậc Hiển Thánh ngày 19/06/1988 đời Đức Gioan Phaolô II.

Kỳ bình yên ngắn trong đời vua Gia Long

Đến khi vua Quang Trung lên ngôi thế nhà Lê, lập triều Tây Sơn cai trị Bắc Hà, thì vua ấy không cấm đạo làm chi. Song le vua ấy mất rồi, con là Quang Toản lên ngôi, lấy hiệu Cảnh Thịnh, thì do còn trẻ, nên các quyền thần thâu tóm, khiến nội bộ triều ấy ra chia rẽ. Nhân sự ấy, Nguyễn Ánh ở Nam Hà chuẩn bị binh lực, chiến thuyền để lật đổ triều Tây Sơn mà giành lại gia nghiệp tổ tông chín đời Chúa Nguyễn nhà mình. Trong số những người phò tá cho Nguyễn vương, có Đức Cha Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) làm giám mục hiệu tòa Adran, Đại diện Tông tòa Địa phận Đàng Trong, làm mưu sĩ cùng thầy dạy cho Thái tử Cảnh, cùng các quân của người Pháp nữa, nên triều đình Tây Sơn nghĩ rằng đạo ta đang tiếp sức cho nhà Nguyễn, nên vua Cảnh Thịnh đã ra sắc chỉ cấm đạo năm 1798, khiến các đấng cùng bổn đạo phải chịu khổ sở, song le sắc chỉ ấy chẳng tồn tại được lâu, vì năm 1802 quân nhà Nguyễn đã lật đổ được triều Tây Sơn, lập nên triều Nguyễn. Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long.

Vậy, bởi ơn nghĩa với Đức Cha Bá Đa Lộc, nên dầu vua Gia Long dầu không ưa đạo, nhưng cũng không cấm đạo, nên Hội Thánh được hưởng kỳ thái bình trong 20 năm cai trị của vua này. Khi ấy, Đức Cha Y đang là giám mục địa phận Đông, vì Người kế vị Đức Cha Phê đã tạ thế từ cuối năm 1799 rồi. Ngày 09/09/1800, Đức Thánh Cha Piô VII bổ nhiệm cha chính Domingo Henares (Minh) O.P. làm giám mục hiệu tòa Fesseë, phó Đại diện Tông tòa Địa phận Đông, nhưng đến ngày 28/09/1802 thì sắc mới đến tay Đức Cha. Vậy ngày 09/01/1803, Đức Cha Y đã phong chức giám mục cách long trọng tại nhà thờ Phú Nhai.

Thời kỳ bách hại đạo dưới đời vua Minh Mạng

Song le đến thời Minh Mạng, tức từ năm 1820 đến năm 1841, vốn là vị vua thượng tôn Nho giáo, chuyên quyền độc đoán, nên ông không bao giờ chấp nhận một tôn giáo được truyền bởi người Tây phương, mà ông cho là “tả đạo” làm băng hoại luân lý Nho gia. Tuy nhiên, trong 12 năm đầu cầm quyền, vua này chỉ lên các sắc chỉ cấm đạo nhằm răn đe dân chúng, cô lập thừa sai, chứ chưa thực hiện việc lùng bắt. Phải đến khi sự biến Lê Văn Khôi ở Gia Định xảy đến, do có liên quan đến người Công giáo, vua Minh Mạng lấy cớ ra lệnh bắt tất cả các Tây dương đạo trưởng và bổn quốc đạo trưởng, cùng những người chứa chấp các đấng ấy. Vua dạy các quan phải làm một cây Thập giá, để khi bắt được những người có đạo, thì quan phải ra lệnh người ấy bước qua hoặc giẫm lên Thập giá như dấu chỉ cho sự bỏ đạo, gọi là quá khóa, bằng không thì sẽ phải chịu án tử. Đã có người tuân lệnh bước qua, nhưng có những vị quyết tâm không quá khóa, thậm chí còn cầm cây Thập giá ấy mà hôn kính và tuyên xưng Đức Tin của mình. Trên thực tế, đối tượng chịu án tử khi ấy chỉ nhắm đến các đạo trưởng và những ai tùy tòng hoặc chứa chấp đạo trưởng, còn về phần giáo dân bình thường, nếu không chịu bước qua, thì chỉ bị đánh đòn rồi cho về. Cho nên, vào thời Minh Mạng, số vị được chịu tử đạo không nhiều cho bằng thời Tự Đức, và phần lớn các đấng ấy là linh mục, thầy giảng, hoặc trợ tá đắc lực của các cha.

Các đấng chịu tử đạo dưới đời vua Minh Mạng

Vậy trong tỉnh Nam Định khi ấy có Tổng đốc Trịnh Quang Khanh trấn nhậm. Y vừa bị vua Minh Mạng quở trách vì chưa diệt đạo triệt để, nên y ra lệnh cho các quan dưới phủ, dưới huyện phải lùng sục cho ra được đạo trưởng trong vùng, cùng đặt thập giá trước cổng thành, để ai vào thành buộc phải bước qua. Y còn ra lệnh triệt phá nhà chung, nhà tràng, nhà phước, nhà thờ lớn nhỏ trong tỉnh ấy. Bấy giờ có Đức Cha Y, Đức Cha phó Minh, Cha Chính José Fernandez (Hiền) O.P., cha Jeronimo Hermosilla (Vọng) O.P. và cha Romualdo Jimeno (Lâm) O.P. là các thừa sai Đaminh ngoại quốc hiện đang ở trong địa phận Đông, đang ẩn náu tại làng Kiên Lao. Thế nhưng, một lần kia có một thầy giảng đang đưa thư của cha Giuse Đặng Đình Viên gửi cho các đấng bậc, khi đi qua Bơn Làng thì bị bắt lại và những kẻ thù ghét đạo đã phát hiện có bốn lá thơ gửi cho bốn cha tây và hai lá thơ gửi cho hai cha nam. Các lá thư này được truyền về kinh đã khiến vua Minh Mạng tức giận vì còn tới tận bảy đạo trưởng ngoài đó, nên ra lệnh trong vòng một tháng phải bắt cho bằng hết, không thì các quan trong tỉnh phải chịu tội. Vậy trong kỳ bách hại ấy, ngoài Đức Cha Y đã chịu chết rũ tù ngày 12/07/1838, Đức Cha Minh cùng thầy phòng bộ Phanxicô Chiểu chịu chém ngày 26/06/1838 tại Bảy Mẫu, cha chính Hiền chịu chém ngày 24/07/1838, sổ bộ Nước Trời đã ghi danh những đấng anh hùng là người con quê Thái Bình đã dõng dạc tuyên xưng Đức Tin và đã được lãnh ơn tử đạo, đó là:

Tượng Cha Thánh Giuse Đặng Đình Viên tại nhà thờ Tiên Chu. Nguồn: Xứ đoàn TNTT Giuse Viên Gx. Tiên Chu.
Tượng Cha Thánh Giuse Đặng Đình Viên tại nhà thờ Tiên Chu. Nguồn: Xứ đoàn TNTT Giuse Viên Gx. Tiên Chu.
  • Cha Thánh Phêrô Nguyễn Bá Tuần, quê Ngọc Đồng, là cha xứ Lác Môn, cùng bị bắt với cha chính Hiền, và đáng lẽ sẽ chịu trảm quyết chung với Người, song le Chúa đã cho Người lãnh phước tử đạo trong tù

ngày 15/07/1838, trước ngày thọ án một tuần.

    • Cha Thánh Giuse Đặng Đình Viên, quê Tiên Chu, làm thầy cả coi sóc xứ Bắc, chịu trảm quyết ngày 21/08/1838.
    • Cha Thánh Đaminh Nguyễn Văn Xuyên O.P., quê Phương Cáp (tức họ Tân Mỹ xứ Nguyệt Lãng), từng coi sóc xứ Kẻ Mèn, chịu trảm quyết ngày 26/11/1839.
    • Thầy Thánh Phanxicô Hà Trọng Mậu T.O.P., quê Kẻ Riền, Thầy Thánh Đaminh Bùi Văn Úy T.O.P., quê An Lập, cùng ba ông Thánh người Bồ Ngọc: Âutinh Nguyễn Văn Mới T.O.P., Tôma Nguyễn Văn Đệ T.O.P., Têphanô Nguyễn Văn Vinh T.O.P., cùng chịu trảm quyết ở Bắc Ninh ngày 19/12/1839.
    • Thầy Thánh Tôma Đào Đình Toán, quê Cần Phán, chịu chết trong tù ngày 27/06/1840.

Vậy các đấng ấy đã được thọ bậc chân phước ngày 27/05/1900 đời Đức Lêô XIII và thọ bậc Thánh ngày 19/06/1988 đời Đức Gioan Phaolô II.

Đức Cha Liêm được đặt làm giám mục địa phận Đông cùng thiết lập địa phận Trung trong kỳ bình yên ngắn dưới thời vua Thiệu Trị

Dù đã bắt được những đấng bậc chủ chốt, song Tổng đốc và các quan trên tỉnh vẫn luôn đau đầu để lùng bắt

cha Jeronimo Hermosilla (Vọng) O.P. Việc bắt được cha Vọng là việc tối quan trọng, vì các quan nghĩ rằng bây giờ ở tỉnh Nam Định là còn một mình cha Vọng thôi, mà không bắt được, thì ắt sẽ bị vua quở phạt. Vậy các quan đã phải hứa năm lần bảy lượt với vua là sẽ bắt được cha Vọng, cùng vẽ ra mặt mũi và treo thưởng hậu hĩnh nơi cổng thành để tầm nã. Song nhờ ơn Chúa, cha Vọng mấy lần suýt bị bắt, nhưng may mắn thoát được. Trong lúc phải trốn chạy nơi này nơi kia, thì ngài được tin: ngày 02/08/1849, Tòa Thánh sắc phong ngài làm giám mục hiệu tòa Miletopolis, Chánh Đại diện Tông tòa địa phận Đông, và cha Lâm làm giám mục hiệu tòa Ruspae, Phó Đại diện Tông tòa địa phận Đông. Đến khi vua Minh Mạng mất đầu năm 1841, con trai là Miên Tông nối ngôi, niên hiệu Thiệu Trị, thì một thời gian sau, Trịnh Quang Khanh bị liên đới vào vụ án tham nhũng của quan dưới quyền, nên bị cách chức, phải về kinh. Phần vua Thiệu Trị thì còn giữ lệnh cấm đạo nhưng không ngặt, nên Hội Thánh được hưởng kỳ bình yên ngắn. Vậy, cha Hermosilla đã đổi tên là Liêm cho khỏi bị lùng bắt. Sau khi Đức Cha Liêm được chịu chức giám mục tại Kẻ Vĩnh bởi tay Đức Cha Pierre Retord (Liêu) đoạn, thì ngày 29/06/1841, Đức Cha đã truyền chức giám mục phó cách trọng thể cho Đức Cha Lâm tại phòng khách nhà xứ Cao Xá. Sau đó, Đức Cha Lâm ở tại Cao Xá đến khi ngài phải làm Tổng Giám mục Cebu năm 1846. Vì thế, ngày 18/05/1847, Tòa Thánh bổ nhiệm cha Domingo Martí (Gia) O.P. làm giám mục hiệu tòa Tricomia, Phó Đại diện Tông tòa Địa phận Đông. Ngày 29/06/1847, Đức Cha Liêm đã tấn phong Đức Cha Gia tại nhà thờ Nam Am, Hải Dương.

Đến khi Tòa Thánh ưng lời cầu xin của Đức Cha Liêm cho tách địa phận Đông thành hai địa phận là địa phận Đông (và địa phận Trung (Bùi Chu) vào ngày 05/09/1848, thì Đức Cha phó Gia cũng được bổ đặt làm giám mục Đại diện Tông tòa tiên khởi địa phận Trung, còn cha Hilarión Alcázar (Hy) O.P. được đặt làm giám mục hiệu tòa Paphus, phó Đại diện Tông tòa Địa phận Đông, thế cho Đức Cha Gia. Mà cũng trong dịp ấy, cha Jose Maria Diaz (An) O.P. cũng được đặt làm giám mục Plataea, phó Đại diện Tông tòa Địa phận Trung. Ngày 08/04/1849, Đức Cha Liêm đã phong chức giám mục cách long trọng cho Đức Cha Hy và Đức Cha An tại nhà thờ Đông Xuyên, Hải Dương.

Vậy, khi Đức Cha Gia ở Bùi Chu, thì Đức Cha An ở Cao Xá coi tràng lý đoán, sau này thì giao cho cha Melchor Garcia Sampedro (Xuyên) O.P. coi sóc nhà tràng Cao Xá thay mình để mình chu toàn việc kinh lý các xứ họ. Đến năm 1852 khi Đức Cha Gia tạ thế bên Hongkong, Đức Cha An về Bùi Chu chấp chánh địa phận, thì ngày 15/04/1853, cha Xuyên được chọn làm giám mục hiệu tòa Tricomia, phó Đại diện Tông tòa Địa phận Trung. Ngày 16/09/1855, Đức Cha An đã phong chức giám mục cho Đức Cha Xuyên tại nhà thờ Bùi Chu. Sau khi nhậm chức giám mục, Đức Cha Xuyên vẫn ở Cao Xá.

Vậy trong kỳ bình yên này, địa phận Trung có 2 nhà trường Latinh: một ở Ninh Cường, do cha Manuel Estévez (Nam) O.P. coi sóc, ở Ngọc Đường, do cha José Salgot (Trung) O.P. coi sóc, cùng ở với cha chính Vicente Acchura (Giu), và một trường lý đoán mới lập ở Phú Nhai vào năm 1856 do cha Manuel Riaño (Hòa) coi sóc. Cả ba cha này đều là những thừa sai trẻ mới đến truyền giáo, nhưng cả ba đấng này sau đó sẽ là những yếu nhân của địa phận Trung sau này.

Vua Tự Đức ra chiếu chỉ cấm đạo

Vậy khi vua Thiệu Trị băng hà năm 1847, con thứ của vua này là Hường Nhậm lên ngôi, lấy niên hiệu là Tự Đức. Ban đầu vua này cho ân xá các kẻ giam cầm vì đạo, song vua Tự Đức, dù có tài đức, nhưng năng lực trị quốc và chính kiến còn hạn chế, nên dễ nương theo ý kiến của các đại thần thủ cựu là những người ghét đạo. Vì thế, vua đã ra sắc lệnh cấm đạo vào năm 1848 và 1851, song việc thi hành lệnh ấy có nơi ngặt có nơi buông. Tại tỉnh Nam Định thì việc cấm đạo không quá tàn khốc, nên việc đạo vẫn được yên ổn, điển hình là Đức Cha An đã dâng lễ Đức Mẹ Mân Côi tại Cao Xá cách trọng thể vào năm 1854. Cũng trong dịp ấy, ngài đã tổ chức cuộc thi kinh bổn cho giáo dân và ra đề bài về giáo lý bằng chữ Nho cho các nho sĩ luận giải theo ý mình. Những cuộc thi này được rất nhiều người hưởng ứng nhiệt thành, thậm chí trong cuộc thi luận văn, các nho sĩ lương dân cũng đến nộp bài dự thi của mình.

Tuy nhiên, sự yên bình ấy không kéo dài được lâu, vì vào lúc đó, con trưởng của vua Thiệu Trị là ông Hường Bảo, vì ghen tức khi mình không được kế vị ngai vàng, nên ông đã lập mưu lật đổ vua Tự Đức. Để có lực lượng, ông ta đã dụ dỗ người Công giáo ủng hộ, đổi lại ông sẽ cho đạo Chúa được tự do nếu ông ta nắm quyền. Dầu rằng không mấy người Công giáo ủng hộ, nhưng khi mưu sự của ông này bại lộ, ông Hường Bảo bị khép vào tội phản nghịch và phải chết trong tù, còn người Công giáo, trước bị gán cho là đạo dị đoan, nay thêm cả đạo phản nghịch nữa. Vì thế, vua Tự Đức ra sắc lệnh cấm đạo khắc nghiệt hơn và phải thi hành triệt để hơn: nếu bắt được Tây dương đạo trưởng thì phải chém buông sông, đạo trưởng bổn quốc, nếu không quá khóa, thì cũng phải xử tử, những ai chứa chấp đạo trưởng thì phải tịch biên gia sản, chịu lưu đày xa xứ, còn kẻ nào bắt được Tây đương đạo trưởng thì thưởng 300 lạng bạc, đạo trưởng bản quốc thì được 100 lạng bạc.

Sắc dụ này trở nên ngặt hơn hết sau khi tàu Catinat của Pháp bắn phá đồn lũy của triều đình tại Sơn Trà ngày 26/09/1856, và việc quan thái bộc tự khanh Micae Hồ Đình Hy bị phát giác theo đạo, khiến vua Tự Đức cho rằng người Công giáo là những kẻ phản quốc, tiếp tay cho Pháp, từ đó vua ra lệnh từ tổng đốc, tuần phủ đến cai tổng, lý trưởng phải ra sức lùng sục cho ra đạo trưởng lẫn thầy giảng, và nếu bắt được thì phải bắt quá khóa, còn không thì phải chịu xử tử, phần giáo dân thì buộc họ ra ngoài đình điểm mục và quá khóa, và dẫu có bỏ đạo rồi, thì phải lưu vào sổ để sau này có thể bắt quá khóa lại, và những quan nào chểnh mảng hay bao che, thì sẽ phải chịu tội.

Tỉnh Nam Định và Hưng Yên chịu sự khốn khó trong những năm đầu Tổng đốc Thượng Hưng nắm quyền

Vậy trong tỉnh Nam Định này có quan Tổng đốc Nguyễn Đình Tân là người làng Phước Yên, tỉnh Thừa Thiên. Thuở nhỏ tên là Hưng, và từng làm Lễ bộ thượng thư nên còn được gọi là quan Thượng Hưng. Y có con gái là phi tần của vua Tự Đức, được sắc lên Thiện phi. Năm 1854, y được bổ nhiệm làm tuần phủ Hưng Yên, vài tháng sau được bổ làm hộ lý Tổng đốc Định – Yên (tức quyền Tổng đốc Nam Định – Hưng Yên), đến năm 1857 thì thăng làm Tổng đốc. Trước kia, y có chịu ơn cha Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh địa phận Tây vì đã chữa bịnh cho y, và y cũng quý mến tài đức của Đức Cha An nữa, cho nên hồi mới ra trấn nhậm ngoài này, y chẳng cấm đạo ngặt. Vì thế khi ấy chỉ có một vị tử đạo trong địa phận là cha Giuse Trần Văn Trứ quê Tiên Chu, đang coi sóc xứ Cao Mại, chịu trảm quyết ngày 09/06/1856, do khi ấy có một thượng quan ở triều đình về coi thi, nên phải tâu về kinh rồi đem đi chém ngay. Các thầy giảng đã đưa xác cha Trứ cho Đức Cha An và ngài đã làm lễ qui lăng trọng thể tại Bùi Chu.

Song từ khi quân Pháp gây hấn với nước ta, lại thêm việc có những toán quân nổi dậy với danh nghĩa phò Lê, Thượng Hưng thay đổi thái độ ra mặt. Trước kia y kính trọng bao nhiêu, thì sau đó y thù ghét bấy nhiêu. Mà chính sự thù hằn căm ghét ấy lại nên mùa bão giông cho giáo dân địa phận Trung, mà sau đó biết bao người đã phải đổ máu mình vì Đức Tin.

Vậy, từ năm 1857, địa phận Trung đã phải gặp sự thiệt hại nặng nề theo nghĩa thế gian: Đức Cha An bị bắt tại Bùi Chu và được phước trảm quyết ngày 20/07/1857 tại Bảy Mẫu, một năm sau thì đến lượt Đức Cha Xuyên cũng được lãnh phước phần ấy vào ngày 28/07/1858. Hai đấng ấy đã được thọ bậc chân phước ngày 29/04/1951 đời Đức Piô XII và thọ bậc Thánh ngày 19/06/1988 đời Đức Gioan Phaolô II.

Đầu năm 1858, có tên bội giáo vì thù hằn với cha Đaminh Huấn coi xứ Ngọc Đường nên đã tố giác xằng bậy với quan rằng làng ấy đang bày mưu nổi loạn, nên quan điều động quân lính tới vây bắt và đốt phá làng. Cha xứ Đaminh Huấn cùng 24 chú Nhà Đức Chúa Trời và 400 bổn đạo bị bắt. Cha chính Giu, và cha chính Trung coi nhà tràng cùng một số học trò chạy thoát được. Sau vài ngày, quan cho thả dân về, nhưng riêng cha Đaminh Huấn cùng các chú Nhà Đức Chúa Trời và một số giáo dân, vì cương quyết không quá khóa, nên đã bị xử trảm vào ngày 31/01/1858.

Sau khi các thầy trường lý đoán đã rời khỏi Ngọc Đường, thì cha chính Trung đặt nhà trường tạm ở Kẻ Rèm (tức xứ An Lập) nhưng không bền, cho nên các thầy sau đó phải tản mác để tránh bị bắt. Vậy các đấng có ý chuyển các thầy sang Macao để học tập cho an toàn (giống như nhà MEP có trường Penang) nên tháng 02/1858, Đức Cha cử cha chính Trung đi, cùng mang theo giấy tờ sổ sách quan trọng, thế nhưng, trên đường đi, ngài đã bị cướp biển giết và quăng xác xuống biển.

Đức Cha Manuel Riaño Hòa O.P. Nguồn: Văn khố Dòng Đaminh tại Avila.
Đức Cha Manuel Riaño Hòa O.P. Nguồn: Văn khố Dòng Đaminh tại Avila.

Cũng trong dịp ấy, cha chính Hòa từ Manila trở về, đem theo hai thừa sai nữa là Valentino Berrio Ochoa (Vinh) O.P. và Jose Carrera (Hiển) O.P. Ngay sau đó, cha Vinh, dù tiếng Việt còn chưa sõi, đã được chọn làm giám mục hiệu tòa Centuria, phó Đại diện Tông tòa Địa phận Trung vào ngày 28/12/1857. Ngày 27/06/1858, trong đêm tối tĩnh mịch, Đức cha Xuyên đã tấn phong giám mục cho Đức Cha Vinh tại nhà ông Huyện Hinh ở Ninh Cường. Chịu chức đoạn, vì bắt đạo ngặt quá, lại thêm việc Đức Cha Xuyên chịu tử đạo rồi, nên Đức Cha Vinh cùng cha Nam và cha Hiển sang bên địa phận Đông ẩn nấp, cụ thể Đức Cha Vinh phải ẩn tại họ Hương La về xứ Tử Nê thuộc tỉnh Bắc Ninh. Địa phận Trung khi ấy chỉ còn một mình cha chính Hòa là bám trụ lại. Ngài ẩn nấp tại xứ Kẻ Mèn, luân phiên ẩn nấp tại hầm thuộc các họ trong xứ ấy là Hữu Vi, Thanh Châu, Đông Phú và Trung Thành (Thánh Tâm). Người cũng siêng năng đi kẻ liệt, nhưng cũng khổ sở nhiều, vì có mấy hôm lính lùng sục khắp Kẻ Mèn, khiến ngài ở dưới hầm tối tăm và ngột ngạt, đến mức có lần giáo dân thấy ngài ngất xỉu, phải đưa ngài ra ngoài gấp.

24 Ông Huyện Hinh là con ông Tư Chi ở làng Ninh Cường. Tương truyền, ông Huyện Hinh từng làm quan lớn, nên được đặc ân là lính tráng không được tự tiện khám xét nhà. Vì thế, ông Huyện Hinh đã đón hai Đức Cha và sắp xếp để tổ chức lễ tấn phong giám mục cho Đức Cha Vinh ở đó. Ông Huyện Hinh sinh ông cố Vĩ, ông cố Vĩ sinh cha Đaminh Mai Ngọc Lợi và Đức Cha Đaminh Mai Thanh Lương.

Hàng linh mục cả triều lẫn dòng cũng được mấy người lãnh phước tử đạo, xin kể mấy vị có quê gốc Thái Bình hoặc phục vụ các xứ họ tại Thái Bình như sau:

Tượng Cha Thánh Đaminh Mậu ở nhà thờ Nam Lỗ. Nguồn: Giáo xứ Nam Lỗ.
Tượng Cha Thánh Đaminh Mậu ở nhà thờ Nam Lỗ. Nguồn: Giáo xứ Nam Lỗ.

Trong năm 1858 có cha Thánh Đaminh Mậu O.P. quê Phú Nhai làm cha xứ Kẻ Riền và bị bắt ở đó rồi chịu trảm ngày 05/11/1858. Xác ngài được chôn ở nhà thờ họ Thượng Lạc về xứ Kẻ Riền, nay là giáo xứ Phú Lạc. Ngài đã được thọ bậc chân phước ngày 29/04/1951 đời Đức Piô XII và thọ bậc Thánh ngày 19/06/1988 đời Đức Gioan Phaolô II. Lại có các thầy cả tử đạo khác là cha Phêrô Thuận O.P. quê Diêm Hộ, cha Phanxicô Duyệt O.P. quê Cao Mại làm cha xứ Kẻ Riền.

Liên quân Pháp – Tây Ban Nha xâm lược nước ta, cùng kể tên các đấng thầy cả quê Thái Bình chịu tử đạo trong địa phận Trung:

Vậy từ khi được tin rằng quan quân nước Nam vẫn ra sức giết hại các thừa sai người nước mình, thì nước Pháp nhân cớ ấy để xâm lược Đại Nam, với danh nghĩa cứu người có đạo. Song việc ấy chỉ là thứ yếu, vì nước Pháp từ lâu luôn dòm ngó địa thế của nước ta, và nếu xâm chiếm được, thì Pháp có những lợi thế to lớn về mặt kinh tế và quân sự tại Viễn Đông, cạnh tranh với các nước thực dân khác trong khu vực, tiêu biểu là thực dân Anh. Phần quân Tây Ban Nha cũng xin liên minh vì các thừa sai là công dân của mình bị triều đình Huế giết, và nếu tham gia thì liệu được hưởng thêm lợi lộc gì chăng? Vậy nên, ngày 01/09/1858, tàu chiến của Pháp và Tây Ban Nha đã nổ súng tại bán đảo Sơn Trà về Đà Nẵng và đổ bộ lên các thành lũy. Việc tấn công vào Đà Nẵng nhằm mục đích đưa quân lên kinh đô Huế mà gây sức ép với vua Tự Đức. Nhưng sau đó, liên quân Pháp – Tây Ban Nha chỉ chiếm được các pháo đài và đồn trú của triều đình tại cửa Đà Nẵng, chứ không tiến ra Huế được. Đầu năm 1859, đề đốc Rigault de Genouilly điều 2/3 quân xuống Gia Định đánh chiếm thành ấy ngày 17/02/1859. Sau đó, do nước Thanh không tuân thủ hiệp ước, nên Pháp phải rút phần lớn số quân để liên minh với Anh đánh Trung Hoa, trong khi vẫn cử quân của mình trấn giữ những nơi mình chiếm được. Phần quân Tây Ban Nha thì vẫn đóng quân ở Đà Nẵng.

Trong thời gian chiếm đóng Đà Nẵng, liên quân đã đưa tàu ra để giải cứu các thừa sai. Việc tàu đến Bắc Kỳ đã khiến cho đấng ấy bước vào một cuộc dằn vặt lương tâm. Bởi lẽ, các cha, nhất là Đức Cha Liêm và Đức Cha Vinh, không ai muốn rời đi, vì các đấng là chỗ dựa tinh thần cho bổn đạo. Nếu các cha rời đi, thì thật bất nhân khi để mặc con chiên trong cơn bách hại này. Nhưng nếu không ai chịu đi, thì nhỡ mai này quân lính bắt được hết tất cả, thì ai sẽ tiếp nối việc giảng đạo tại đây? Vì thế, sau khi các đấng bàn họp lại, thì đã quyết định như sau: Đức Cha Vinh, Cha Chính Hòa, Cha Bình, Cha Nghĩa sẽ ở lại, còn Đức Cha Hi và các cha khác sẽ lên tàu Pregent đang đậu ở Đồ Sơn để trở về Macao. Các cha năn nỉ Đức Cha Liêm cùng đi, vì Đức Cha Liêm là vị thừa sai duy nhất bị triều đình lên lệnh “truy nã đặc biệt” qua ba đời vua, bốn đời tổng đốc, nên chắc chắn lần này khó lòng bảo toàn, nhưng Đức Cha Liêm nhất quyết ở lại với đoàn chiên mình.

Cuộc xâm lược này càng làm vua Tự Đức thêm phần thù ghét đạo hơn mà truyền cho các quan phải tiễu trừ cho được những đạo trưởng và đồng đảng là những thầy giảng, cùng bắt giam các đầu mục, tức cai tổng, lý trưởng, chánh trương, trùm họ và các người chức việc có đạo, và ép họ phải quá khóa, nếu không quá khóa thì phải đưa đi lưu đày. Các binh lính tại ngũ cũng phải quá khóa, nếu bất tuân sẽ bị xử tội.

Vậy đây là số các linh mục quê Thái Bình hoặc coi sóc xứ họ trong địa phận này đã được lãnh phước tử đạo: trong năm 1859 có cha Thánh Đaminh Cẩm quê Cẩm Chương về tỉnh Bắc Ninh, làm thầy cả địa phận Trung, bị bắt khi đi kẻ liệt ở Hà Lang (tức xứ Quỳnh Lang) và chịu trảm ngày 11/03/1859. Ngài đã được thọ bậc chân phước ngày 29/04/1951 đời Đức Piô XII và thọ bậc Thánh ngày 19/06/1988 đời Đức Gioan Phaolô II. Lại có các thầy cả tử đạo nữa là cha Vincentê Trí O.P. quê Sa Cát, cha Phêrô Cảnh O.P. quê Đại Đồng về tỉnh Hưng Yên, cha Phêrô Cao quê Kẻ Riền, cha Giuse Khang O.P. quê Nhân Lý (tức xứ Phú Giáo), cha Phêrô Quyền O.P. quê Kẻ Riền.

Trong năm 1860 có cha Thánh Thomas Khuông quê Nam Hòa (tức xứ Hưng Yên) chịu trảm ngày 30/01/1860. Ngài đã được thọ bậc chân phước ngày 29/04/1951 đời Đức Piô XII và thọ bậc Thánh ngày 19/06/1988 đời Đức Gioan Phaolô II. Lại có các thầy cả tử đạo là cha Gioan Hương quê Tương Đông (tức xứ Tương Nam) bị bắt ở Kẻ Vân, cha Đaminh Cần quê Viên Tiêu, cha Gioan Trác O.P. quê Vàng Xá (tức xứ Phương Xá).

Trong năm 1861 có cha Thánh Giuse Tuân O.P. quê Trần Xá chịu trảm tại Hưng Yên ngày 30/04/1861. Đầu năm 1862 thì có hai cha Gioan Án O.P. quê Tương Đông bị bắt ở làng Bái Bồ Trang, cha Gioan Thạc O.P. quê Hà Lạn làm cha xứ Tiên Chu cũng bị bắt. Hai cha này đều chịu trảm tại Hưng Yên khác ngày.

Đức Cha Liêm phải ẩn mình ở tỉnh Bắc, có thầy Giuse Khang theo hầu, cùng kể các đấng thầy cả Thái Bình tử đạo tại địa phận Đông

Phần Đức Cha Liêm, sau khi chia địa phận năm 1848, thì ngài làm giám mục địa phận Đông, và trú ở Đông Xuyên. Song khi cơn bắt đạo trở nên dữ dội quá sức, thì Đức Cha Liêm phải chạy về Kẻ Mốt là nơi có nhà tràng Latinh. Vậy có một thầy nhà tràng Latinh theo hầu Đức Cha là thầy Thánh Giuse Nguyễn Duy Khang T.O.P. quê Trà Vi. Thầy trước kia ở trong Nhà Đức Chúa Trời với cha Mátthêu Năng O.P. được mười năm, sau được cha gửi đi học tại nhà tràng Latinh Kẻ Mốt. Vậy khi Đức Cha Liêm về Kẻ Mốt, thấy thầy đạo đức và siêng năng, nên Đức Cha chọn thầy Khang làm thầy phòng bộ cho mình, nên đi đâu thì Đức Cha cũng dẫn thầy đi theo hầu.

Vậy trong kỳ bắt đạo ở địa phận Đông có cha Thomas Án, tức Nguyễn Toản, quê ở Hội Khê về xứ Cổ Việt, làm cha xứ Đồng Xá, chịu trảm ngày 06/12/1859 tại thành Hải Dương. Cha Thomas Án được các quan kính trọng, nên khi biết vua ra lệnh thi hành án, các quan đối đãi ngài tử tế, và khi ra pháp trường, thì các quan cũng để cho cha giảng thuyết trước dân chúng. Xác cha hiện chôn táng ở nhà thờ Đồng Xá, địa phận Hải Phòng.

Lại có cha Đaminh Độ quê ở Trà Bồ (tức xứ Phương Bồ), trước làm cha xứ Kẻ Mèn, và sắp được khấn dòng Đaminh rồi, nhưng do sự biến xảy đến, nên cha chưa được khấn mà phải sang coi xứ Cao Mộc. Đến kỳ bắt đạo ở địa phận Trung gắt gao, ngài mới sang địa phận Đông lánh nạn và đã bị bắt tại họ Cống Hiền xứ Hội Am. Đoạn, ngài chịu trảm quyết ngày 12/08/1861. Xác ngài được các bà đạo đức đem về làng Kẻ Mốt lúc đêm tối. Tại đây, khi thầy Khang đã khâu đầu và mặc áo liệm cho cha đoạn, thì Đức Cha Liêm mới tới làm phép xác và nói rằng: “Ớ cụ Dumingô đã đổ máu vì danh Đức Giêsu Kirixitô, cụ còn nhớ khi xưa Thầy đã truyền chức cho cụ chăng?” Bỗng nhiên cha Độ mở mắt ra nhìn Đức Cha Liêm, nhưng không nói gì cả. Đức Cha Liêm lại nói thêm: “Cụ về Thiên đàng trước thì nhớ cầu cho Thầy nữa, Thầy sẽ theo cụ sau”. Nói xong, cha Độ liền nhắm mắt lại như thể nhậm lời Đức Cha vậy. Vậy, cha Đaminh Độ được an táng tại Kẻ Mốt, ở lối vào hầm trú ẩn của Đức Cha Liêm.

Khăn thấm máu của cha Độ và cha Án hiện lưu trữ tại nhà thờ Đaminh Ba Chuông, Saigon.
Khăn thấm máu của cha Độ và cha Án hiện lưu trữ tại nhà thờ Đaminh Ba Chuông, Saigon.

Ǫuân triều đình thua ở mặt trận Nam Kỳ, vua Tự Đức ra chiếu chỉ phân sáp

Từ năm 1861 đến đầu năm 1863 là năm mà toàn thể Hội Thánh Địa phận Trung trên đường lên Núi Calvariô, vì khi quân Pháp đã đánh trận ở Trung Hoa xong, thì đã dồn tổng lực đánh chiếm Nam Kỳ. Ngày 14/02/1861, Pháp nổ súng vào Gia Định, khiến đại đồn Chí Hòa của tướng Nguyễn Tri Phương bị sụp đổ nhanh chóng, tiếp đến các tỉnh Biên Hòa, Định Tường và Vĩnh Long cũng nhanh chóng rơi vào tay Pháp. Đầu năm 1862 có Phêrô Tạ Văn Phụng khởi binh nổi loạn, tự xưng là Lê Duy Minh là hậu duệ nhà Lê để chống lại triều đình. Khi triều đình thấy thù trong giặc ngoài như vậy, đáng lẽ phải nên liên kết lương giáo để chống giặc, song họ chằng làm thế, lại đổ hết tai vạ lên người Công giáo, cho rằng mấy sắc lệnh lần trước chưa nghiêm, nên lần này, không chỉ riêng các giáo sĩ, thầy giảng, mà ngay cả những bổn đạo chân chất, quê mùa, chưa một lần thấy tàu Tây thế nào, thậm chí có khi chưa đi hết cả huyện cả tỉnh mình ở, cũng phải chịu chung số phận với các đấng.

Vậy từ tháng 07/1861 (tháng 6 năm Tự Đức 14), vua Tự Đức ra sắc lệnh thực hiện việc “phân sáp” tức là triệt phá các làng có đạo và phân tán bổn đạo vào các làng ngoại giáo để kìm hãm. Việc này đã được nhắc trong sách Đại Nam Thực Lục của Quốc sử quán Triều Nguyễn ghi như sau: “Sức nhắc lại các địa phương phải nghiêm ngặt chia ghép bọn dân đạo. Trước đây, chia ghép các dân đạo, còn nhiều sót lậu. Đến bây giờ, nghiêm bắt phủ huyện các địa phương: phàm những dân đạo trai gái già trẻ, không cứ đã bỏ đạo hay chưa, đều thích chữ vào mặt, chia ghép đến ở vào xã thôn không có đạo, mà phải quản thúc cho nghiêm. Những tên đầu mục hung ác vẫn nghiêm giam như cũ. Nếu người Tây dương đến nơi, thì đem bọn dân đạo ấy giết cho hết. Phủ huyện nào lại còn nhu nhơ dong kẻ gian, để đến nỗi sinh ra việc gì lo ngại, tất phải chiểu quân luật trị tội.

Kể từ lúc đó, một khung cảnh tan thương chưa từng thấy trong Hội Thánh Việt Nam, nhất là tại địa phận Trung là có số bổn đạo đông hơn cả: các làng mạc Công giáo thì san phẳng bình địa, ruộng đồng bị sung công, các bổn đạo, bất kể nam phụ lão ấu, ai nấy cũng bị bắt đeo gông, rồi sau đó đưa đi phân sáp vào những làng xa xứ. Có những người đã chối đạo quá khóa lần trước, nay cũng chẳng được tha, cũng bị đưa đi phân sáp. Trên mặt họ phải thích chữ “tả đạo” cùng quê quán mình. Lại trong tỉnh Nam Định và Hưng Yên có Tổng đốc Nguyễn Đình Tân vốn bạo ngược hung tàn, đến nỗi các đấng bậc phải gọi y là “Nêrô nước Annam”. Trước kia y được vua giao việc thống lĩnh việc dẹp trừ giặc Phụng, nhưng không dẹp được, lại thêm việc quân Pháp xâm lược, nên y càng căm ghét người có đạo mà hành hạ người có đạo hết sức dã man, hết vụt hàng trăm roi đến bỏ đói cho chết, hết dùng lời mạ lỵ đến lôi người quá khóa. Khi thấy Tổng đốc bách hại người có đạo như thế nào, thì quan phủ, quan huyện cùng đầu mục các làng bên lương lãnh việc canh chừng người có đạo cũng học đòi, khiến bổn đạo phải đau khổ tột cùng. Tuy nhiên, những khổ hình nơi giam cầm chẳng làm cho bổn đạo nhụt chí, trái lại, lời kinh Mân Côi, lời kinh Tin Kính luôn được vang vọng trong những ngục tối, giữa những đình chùa nơi xa xứ, và cả trước mặt quan quân. Những khi họ bị ép buộc phải quá khóa, họ nhất quyết không nghe, nhưng tuyên xưng Đức Tin, thậm chí còn ôm lấy Thập giá mà hôn kính. Có những người đã quá khóa trước thời phân sáp, thì nay là dịp họ làm việc đền tội, bằng những sự hy sinh trong lao tù, và bằng sự xưng đạo dõng dạc trước mặt quan quyền thế gian.

Các bổn đạo phải thích chữ “Tả đạo” vào mặt.
Các bổn đạo phải thích chữ “Tả đạo” vào mặt.

Đức Cha Liêm cùng thầy Khang chịu bị bắt và tử đạo

Khi Đức Cha Liêm thấy tình hình chẳng còn an toàn nữa, nên Đức Cha cho giải tán nhà tràng Kẻ Mốt, còn mình và thầy Khang ẩn sang làng Thổ Đức gần đó, nhưng cũng được mấy hôm là bị lộ, nên lên thuyền xuôi về Hải Dương và có tá túc ở thuyền nhà ông Trương Bính. Ai dè thằng con ông này do có mâu thuẫn với cha mẹ nên nó đã tố rằng trên thuyền có Tây dương đạo trưởng. Vậy ngày 21/10/1861, quân lính ập đến bắt Đức Cha trên thuyền ấy. Khi thấy sự ấy, thầy Khang rút sào toan một trận sống mái với chúng, nhưng Đức Cha khuyên bảo thầy: “Chớ làm hại gì chúng nó, song hay theo Thánh ý Đức Chúa Lời”. Vậy Đức Cha Liêm mới lấy số tiền ít ỏi trong túi mình mà xin cho thả những người còn lại, chỉ mình thì bị bắt thôi. Song thầy Khang mới nói rằng: “Nếu Đức Thầy tôi đã bị bắt thì xin bắt cả tôi nữa, và nếu Đức Chúa Lời định Người phải chết, thì tôi cũng xin được chết với Người vậy.” Vậy cả hai cha con cùng bị bắt mà đem về tỉnh Hải Dương. Vậy quan tỉnh ấy đối đãi Đức Cha khá tử tế, được nhốt trong cũi riêng, lại được cho ăn uống tử tế và không đánh đập gì cả. Mấy ngày sau thì Đức Cha gặp được Đức Cha Vinh và cha Bình cùng bị bắt.

Phần thầy Khang thì bị tách khỏi Đức Cha mà giam chung với các đầu mục có đạo, mà các quan đối đãi thầy trái ngược với các đấng Tây. Thầy đã phải chịu đòn rất dữ, đến nỗi da thịt bị tét chảy máu. Song thầy kiên quyết không khai nơi ẩn mình của các đấng bậc khác, cũng như quyết không quá khóa.

Khi vua Tự Đức biết tin là bắt được tận ba đạo trưởng, trong có có “Danh Trùm Vọng” ba đời vua lùng mãi không ra, thì mừng rỡ lắm, truyền lệnh giải về kinh đô để chính vua xử tội, nhưng Thượng Hưng khi thấy các quan tỉnh Hải Dương đối đãi các đấng Tây như vậy, thì tức giận đòi phải xử trảm các đấng ấy ngay, và chính y sẽ bẩm báo vua sau. Các quan tỉnh Đông vì cả nể y là quốc trượng (cha vợ vua) và từng là thượng thư, nên đã xử trảm ba đấng tại pháp trường Năm Mẫu Hải Dương ngày 01/11/1861. Hiện nay, hài cốt các đấng ấy đã được cải về quê hương mình ở bên Tây Ban Nha.

Phần thầy Khang, khi nghe tin Đức Thầy đã được lãnh phước tử đạo, thì vui mừng lắm, lại cầu xin Chúa cho mình cũng được ơn vậy. Vậy ngày 06/12/1861, tức chỉ một tháng sau, thì Thầy Khang cũng được như ý nguyện. Xác thầy được chôn táng tại pháp trường, đến sau này thì anh trai thầy là Cai Hinh mới cải về chôn ở nhà thờ Kẻ Mốt. Đến khi thầy thọ bậc Á Thánh đoạn, thì Đức Cha địa phận Đông dạy lấy thủ cấp Người để ở nhà thờ Hải Dương, xác thì để ở Kẻ Mốt. Đến khi di cư vào Nam, thì bổn đạo họ Hải Dương đã mang đầu thầy vào Nam. Hiện nay, thánh tích này hãy còn ở nhà thờ Hải Dương Hố Nai, Giáo phận Xuân Lộc.

Vậy ngày 09/06/1906 thì Đức Cha Liêm, Đức Cha Vinh, Cha Bình và Thầy Khang được thọ bậc Á Thánh đời Đức Piô X, và thọ bậc Hiển Thánh ngày 19/06/1988 đời Đức Gioan Phaolô II. Các đấng ấy được giáo hữu xây cho một đền Thánh lộng lẫy tại pháp trường Năm Mẫu Hải Dương năm xưa, nên các ngài cũng được gọi là Bốn Thánh Tử đạo Hải Dương.

Rước kiệu Thủ cấp thầy Thánh Giuse Nguyễn Duy Khang trong ngày lễ kính các Thánh Tử đạo Hải Dương tại giáo xứ Hải Dương, giáo phận Xuân Lộc. Ảnh: BTT Dòng Thánh Thể.
Rước kiệu Thủ cấp thầy Thánh Giuse Nguyễn Duy Khang trong ngày lễ kính các Thánh Tử đạo Hải Dương tại giáo xứ Hải Dương, giáo phận Xuân Lộc. Ảnh: BTT Dòng Thánh Thể.

Cha Chính Estevez Nam về lại địa phận mà xem thấy những đau đớn mà các bổn đạo phải chịu trong kỳ phân sáp

Vậy khi Đức Cha Liêm và Đức Cha Vinh chịu tử đạo đoạn, thì Đức Cha Hi và Cha Chính phó Nam đang ở Macao đã tức tốc xin lên đường trở về địa phận, mặc cho lúc này đang là đỉnh điểm của cuộc bách hại. Cha Chính phó Nam lên đường là phải, vì lúc này Địa phận

Trung chỉ còn một mình Cha Chính Hòa đang ẩn nấp tại Kẻ Mèn, nên phải về để chia sẻ thập giá với anh em mình. Khi ngài về địa phận, thì ngài đã chứng kiến nhiều cảnh đau thương chết chóc nơi bổn đạo, đến nỗi tưởng rằng một mai 150.000 bổn đạo khắp cả địa phận Trung này sẽ chẳng còn ai. Bởi lẽ, khi giặc Phụng ngày càng bành trướng, lại thêm việc quân Pháp càng ngày chiếm được các tỉnh Nam Kỳ, khiến Thượng Hưng lo sợ rằng quân Gia Tô sẽ theo Tây theo giặc, nên phải diệt cho bằng sạch. Trước kia, y cho xử trảm hoặc xử giảo, thì nay, y lại nghĩ thêm nhiều cách để xử tử những tín hữu vô tội: nào là thiêu sinh, nào là chôn sống, nào là lăng trì, nào là trầm hà… và mỗi lần xử tử như vậy, thì số người chết lên từ vài chục đến vài trăm. Theo thư của cha Chính Nam, thì con số người chịu chết vì đạo trong địa phận Trung là 16.000 người, hoặc thậm chí hơn thế nữa. Chỉ tính riêng tại thành Hưng Yên, số người chịu tử đạo lên tới 5000 người, trong đó ngày 01/06 là có 100 người bị trảm, hôm sau là 600, ngày thứ ba còn nhiều hơn thế nữa, chưa kể số bổn đạo bị giết ở các nơi phân sáp tại các phủ huyện trong tỉnh.

Cuộc tử đạo của Đức Thầy An, Đức Thầy Xuyên và các bạn tử đạo thuộc địa phận Dòng.Nguồn: Văn khố Dòng Đaminh tại Avila.
Cuộc tử đạo của Đức Thầy An, Đức Thầy Xuyên và các bạn tử đạo thuộc địa phận Dòng. Nguồn: Văn khố Dòng Đaminh tại Avila.

Triều đình phải ký Hòa ước Nhâm Tuất mà tha đạo

Trước hỏa lực của thực dân Pháp, triều đình Huế đành phải ký Hòa ước Nhâm Tuất ngày 05/06/1862, trong đó có điều bất lợi nhất cho quốc gia: đó là triều đình phải nhượng hẳn 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho Pháp, đổi lại Pháp sẽ trả tỉnh Vĩnh Long nếu như triều đình dẹp tắt các cuộc khởi nghĩa trong nước. Về khoản Hai, hòa ước yêu cầu Đại Nam phải cho phép thần dân của mình là các thừa sai được hành đạo và người Đại Nam muốn theo đạo thì cũng phải để họ tự do. Tuy đã ký sắc lệnh ấy rồi, nhưng việc bách hại đạo tại địa phận Trung vẫn còn tiếp diễn, do Thượng Hưng, khi biết tin Đại Nam nghị hòa dẫn đến mất đất, càng điên cuồng ra sức hành quyết người có đạo hơn. Đến tháng 07/1862, vua Tự Đức mới ban lệnh ân xá cho những kẻ có đạo đến các phủ huyện, từ rày về sau không ép buộc họ quá khóa bỏ đạo nữa, tuy nhiên, vua vẫn cho rằng đây là “tả đạo”, gọi dân này là “dửu dân”, tức dân này “như cỏ lùng, không tốt lành”, và cần phải giáo hóa, để họ nên như những “lương dân”, tức “người dân lương thiện”. Vậy lúc này các cuộc bách hại người có đạo dần giảm đi. Đàn bà, trẻ con, người già được về nhà trước, sau đó thì tha cả đầu mục và trai tráng luôn. Tuy vậy, Thượng Hưng trong

lòng vẫn thù ghét đạo, nên khi biết tin vua tha đạo, thì đã tâu vua rằng: do trước kia trong tỉnh y giết bổn đạo nhiều, sợ giáo dân đem lòng oán giận mà theo giặc, nên xin cho tỉnh Nam Định được giam người có đạo như cũ, song vua không cho. Vì thế, khi ai bị lưu đày ở tỉnh khác về trình giấy ân xá của quan tỉnh ấy cho Thượng Hưng, thì y chẳng tha, mà còn giam giữ và hành hạ cho đến chết, cho nên trong các án tích của các vị tử đạo lưu bên Thánh Bộ, đến cuối năm 1862 vẫn còn các chứng nhân tử đạo. Tháng 05/1863, Thượng Hưng được vua gọi về kinh giữ hàm Binh bộ Thượng thư nhưng không tham gia chính sự. Năm 1864, Hường Tập là em vua Tự Đức, khi thấy triều đình nghị hòa, sanh lòng thù hằn mà lập mưu nổi dậy chống triều đình, rồi toan đi giết các dân có đạo, song vụ này sớm bị bại lộ, nên Tập bị xử lăng trì, gạch tên khỏi tôn thất. Vụ này có hai con trai của Thượng Hưng đồng lõa, nên y cũng bị liên đới tội bao che, xử trảm giam hậu, sau đổi thành phạt trượng đồ, quy đổi bằng phạt tiền. Sau xét thấy y là công thần, nên năm 1866, vua ban cho y chức Hồng lô Tự khanh hưu trí cho đến khi qua đời ngày 24/03/1873. Hiện ở Huế có đường Nguyễn Đình Tân.

Các Đấng Thánh Tử đạo Thái Bình và Hưng Yên trong kỳ phân sáp

Sau khi cơn bách hại kết thúc, các đấng bậc đã dạy các bổn đạo cải táng hài cốt các đấng tử đạo về quê hương xứ sở, cùng phải khai ra lai lịch và cuộc tử đạo của các vị ấy để các đấng bậc làm án phong Thánh nộp qua Rôma. Các hồ sơ này đã được đệ trình sang Tòa Thánh vào năm 1874, với bộ hồ sơ của các họ giáo được đóng theo xứ: Cao Xá (bộ 31), Tiên Chu (bộ 111), Ngọc Đường (bộ 137), Cổ Việt (bộ 270), Kẻ Riền (bộ 439), Sa Cát (bộ 470), Lai Ổn (bộ 474), Kẻ Hệ (bộ 493), Kẻ Mèn (bộ 525), Bác Trạch (bộ 585). Ngày 14/11/1917, Thánh Bộ Lễ Nghi thay mặt Đức Giáo hoàng Piô XI ra sắc lệnh chấp thuận mở tiến trình phong Chân phước cho 1315 hồ sơ tử đạo thuộc bốn địa phận Dòng, sau là 1288 hồ sơ, trong đó các vị tử đạo quê hương Thái Bình và Hưng Yên có hơn 500 vị. Vậy trong kỳ bắt đạo này thì đã có những gương anh dũng sau: 28 Sở dĩ chỉ còn 1288 hồ sơ, vì khi cha Marcos Gispert An O.P. lãnh việc dịch thuật và biên soạn tiểu sử các vị tử đạo, thì phát hiện có 37 hồ sơ bị trùng tên, nên đã xin Tòa Thánh gạch đi, còn lại là 1278 hồ sơ. Lại thêm 10 hồ sơ của 10 vị được bổ sung trong các phiên điều tra vào năm 1893 và 1894, nên tổng số hồ sơ lúc này là 1288. Như vậy, Tòa Thánh không loại bỏ vị nào cả, chỉ loại các hồ sơ bị trùng tên mà thôi.

  • Ông Thánh Giuse Túc quê họ Đức Bà Mân Côi làng Hoàng Xá về tỉnh Hưng Yên, chẳng mong mình được thoát thân, song đã dâng tuổi thanh xuân của mình cho Chúa để nhận ngành lá thiên tuế vào ngày 01/06/1862 tại thành Hưng Yên chung với các bạn.
  • Ông Thánh Phaolô Đổng quê họ Thánh Tôma Tông đồ làng Vực Đường, tức xứ Lê Xá bây giờ, chẳng chịu khắc trên má mình hai chữ “tả đạo”, song lại sửa lại thành “chính đạo”, đã chịu án trảm ngày 03/06/1862 tại thành Hưng Yên chung với các bạn.
  • Năm ông Thánh xứ Mèn là các ông: ông Thánh Phêrô Dũng và ông Thánh Phêrô Thuần quê họ Thánh Phanxicô Xaviê làng Đông Phú, ông Thánh Đaminh Toại và ông Thánh Đaminh Huyên quê họ Kính Danh làng Đông Thành, và ông Thánh Vincentê Dương quê họ Thánh Vincentê làng Doãn Trung, tức xứ Thanh Minh bây giờ. Các ông này bị phân sáp ở các làng khác nhau, nhưng đều được lãnh án thiêu sinh nơi mình bị lưu đày vào tháng 6/1862.

Các đấng ấy đã được thọ bậc Á Thánh ngày 29/04/1951 đời Đức Piô XII, và thọ bậc Hiển Thánh ngày 19/06/1988 đời Đức Gioan Phaolô II. Và còn biết bao gương chứng nhân anh dũng đã hy sinh vì Đức Tin, mà nay hài cốt các đấng ấy, hoặc được an vị trong lăng mộ, trong lòng nhà thờ, hay đã nằm mãi ở nơi mình đã đổ máu ra. Dù gì đi chăng nữa, chắc chắn Chúa đã mở cửa Thiên đàng cho các đấng ấy, và giờ đây các đấng hằng ca tụng quanh Chiên Thiên Chúa là Đấng đổ máu mình cứu chuộc muôn dân.

Lăng các vị tử đạo họ nhà xứ Bồ Ngọc.
Lăng các vị tử đạo họ nhà xứ Bồ Ngọc.

TRƯỚC KỲ BÌNH MINH

Đấng chủ chăn đặt nền móng cho tân địa phận Thái Bình: Đức Cha Muñagorri Trung O.P.

Trước khi địa phận Thái Bình được thành lập, thì hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên luôn nằm trong sự quan tâm của các đấng bậc thừa sai Đaminh coi sóc Địa phận Đông (1679-1848), Địa phận Trung, sau là Địa phận Bùi Chu (1848-1936). Vào thời kỳ bắt đạo, các đấng bậc khi bị truy nã thì đều trốn tránh tại các làng trong Thái Bình và Hưng Yên, nhất là cha chính Hòa đã ở Kẻ Mèn gần 10 năm trong thời kỳ địa phận Trung không còn một thừa sai nào. Lại có thời gian các đấng bậc đặt chủng viện tại Cao Xá và Ngọc Đường, và cũng nhiều đấng bậc khi mới qua thì học tiếng nước Nam ở đấy. Vì thế, dù sau này Tòa Giám mục đặt ở Bùi Chu bây giờ, thì các Đấng bậc vẫn hằng lo liệu cho nđoàn chiên nơi đây, và đã gửi nhiều đấng thừa sai Đaminh nhiệt thành sang đây để mở mang việc đạo. Trong số những tông đồ Dòng Giảng Thuyết đã phục vụ tại miền truyền giáo Thái Bình trong thời kỳ này, không thể không kể đến cha Pedro Muñagorri Trung O.P., mà sau này ngài sẽ là giám mục địa phận Trung.

Đức Cha Muñagorri Trung O.P
Đức Cha Muñagorri Trung O.P

Đức Cha Pedro Muñagorri Trung O.P., người xứ Basque, sinh ngày 28/06/1865 tại Berástegui, tỉnh Guipúzcoa. Ngài mặc áo dòng Đaminh ngày 15/12/1880 và khấn đơn ngày 13/09/1881 tại Ocaña, khấn trọng thể ngày 14.09.1884 tại Avila. Sau khi hoàn tất chương trình học và chịu chức phụ phó tế, thầy nhận bài sai đi nhà dòng tại Manila, rồi nhận bài sai đi truyền giáo tại Đàng Ngoài vào năm 1887. Ngày 21/07/1887, ngài được chịu chức linh mục tại Phú Nhai do Đức Cha Wenceslao Thuận đặt tay.

Sau khi học tiếng tại Phú Nhai, ngài được bổ nhiệm coi một số họ đạo trong xứ Quần Phương (Bùi Chu) vài năm, sau đó được bổ nhiệm coi sóc xứ Ngọc Đường, rồi xứ Tiên Chu. Tại đây, với thái độ niềm nở và lời rao giảng đầy thuyết phục, cha đã lôi kéo được biết bao nhiêu linh hồn trở lại. Cha cũng là người say mê Thánh Thể, nên ngài đã quyết định đại tu nhà thờ Ngọc Đường và Tiên Chu để đặt Mình Thánh Chúa cho xứng hợp.

Trong suốt mười năm cha ở Hưng Yên, với độ am hiểu kiến trúc một cách sâu sắc, năm 1898, khi còn là cha xứ Tiên Chu, cha đã cho xây dựng ngôi Thánh đường đẹp đẽ và kiên cố tại tỉnh lỵ mà nhiều người hay mệnh danh là “Hòn Ngọc Hưng Yên.” Ngôi nhà thờ này được dựng theo kiểu Gothic. Toàn bộ nội thất được làm bằng gỗ lim. Các hàng cột được đánh vẹc ni và mạ vàng một cách trang nhã.

Năm 1900, ngài được bài sai làm cha xứ Sa Cát, thường trú thị xã Thái Bình, là tỉnh lỵ của tỉnh Thái Bình mới được tách từ tỉnh Nam Định năm 1890. Tại đây, ngài đã thể hiện tấm lòng nhân hậu của mình bằng việc xây dựng trại phong Vân Môn, cách tỉnh lỵ Thái Bình 13 cây số, với sự đài thọ của công sứ Vouillon, cùng một nhà thương dành các bệnh nhân già cả nghèo khó, và mời các dì dòng Thánh Phaolô từ bệnh viện công của Tỉnh đến phục vụ.

Các bệnh nhân đang nhận thuốc tại trại phong Vân Môn.Nguồn: Viện Viễn đông Bác cổ (EFEO).
Các bệnh nhân đang nhận thuốc tại trại phong Vân Môn. Nguồn: Viện Viễn đông Bác cổ (EFEO).

Sau khi hoàn tất công trình, ngài nhận thấy rằng Nhà Chung Thái Bình thì bề thế mà nhà thờ để đặt Mình Thánh Chúa thì quá nhỏ bé, nên ngài đã quyết định xây dựng một ngôi Thánh đường lộng lẫy nhất trong thị xã để dâng kính Thánh Tâm Chúa. Đầu năm 1903, lễ đặt viên đá đầu tiên đã được cử hành. Dầu trải qua bao nhiêu sự khó khăn, nhất là trận bão ngày 07/06/1903 đã làm sập tường mới xây, thế nhưng, bằng lòng quảng đại của các tín hữu, và kể cả công chức và lương dân, một ngôi Thánh đường dài 43m, rộng 16m, chiều cao của nhà thờ tính đến đỉnh là 17m và hai tòa tháp ở hai bên mặt tiền cao 26m50, đã được hoàn thành cách tốt đẹp. Ngày 17/06/1907, Đức Cha Maximo Fernandez Định O.P., giám mục địa phận Trung, đã làm phép Thánh đường cách long trọng. Đến ngày 13/08/1907, cha Muñagorri được Tòa Thánh bổ nhiệm làm giám mục hiệu tòa Pityus, Đại diện Tông tòa Địa phận Trung. Ngày 05/01/1908, ngài được tấn phong giám mục tại chính ngôi nhà thờ mà ngài đã dày công xây dựng.

Nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình thập niên 1920. Nguồn: Viện Viễn đông Bác cổ (EFEO).
Nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình thập niên 1920. Nguồn: Viện Viễn đông Bác cổ (EFEO).

Sau khi Đức Cha Trung lên làm giám mục, ngày 17/08/1908, ngài đã tách xứ Sa Cát thành ba xứ Nam Lỗ, Sa Cát và Thái Bình. Đến năm 1912, các sơ Dòng Thánh Phaolô thành Chartes thiết lập nhà nuôi trẻ nữ

trong khuôn viên nhà thương lão Thái Bình, cùng dạy trẻ nữ học thêu dệt, học chữ và học kinh bổn.

Ngày 03/11/1913, Đức Cha quyết định chia xứ Tiên Chu thành hai xứ riêng, bờ Bắc thuộc tỉnh Hưng Yên là địa giới xứ Tiên Chu, còn bờ Nam thuộc tỉnh Thái Bình thì thành lập tân giáo xứ Hà Xá. Năm 1915, Đức Cha Trung tái lập xứ Kẻ Vân, vốn đã bị sáp nhập vào xứ Cao Xá từ thời bắt đạo. Năm 1918, Đức Cha Trung tái lập xứ Cao Mại, vốn đã bị sáp nhập vào xứ Bác Trạch từ thời bắt đạo. Trong thời gian Đức Cha Trung coi sóc giáo phận, ngài cũng thiết lập nhiều giáo xứ khác trong hai tỉnh trên.

Đức Cha Trung còn mua thêm các đất ruộng trải từ 10 mẫu đến 40, 50 mẫu đến hơn 100 mẫu tại Võng Phan, An Cầu, Tòng Hóa (Hưng Yên), Tân Mỹ, Thái Sa, Nghĩa Chính, Hợp Châu, Lạc Thiện (Thái Bình), chưa kể trước đó đã có các ruộng khác mà đời Đức Cha trước đã mua như ở Ngọc Châu, An Vỹ, Giáo Thiện… để làm huê lợi cho Nhà Chung.

Kinh Rôsa là trọng tâm của đời sống đạo địa phận Trung

Lại nói đôi nét về đời sống đạo của giáo hữu tại hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên, khi ấy thuộc địa phận Trung. Vì là địa phận được phú cho Tỉnh Dòng Kẻ Giảng Rất Thánh Rôsariô với các thừa sai là người Tây Ban Nha, vốn được biết đến có truyền thống đạo đức bình dân đặc biệt, lại thêm những phong tục cổ truyền đặc sắc tại quê hương, nên địa phận Trung cách chung và địa hạt Thái Bình và Hưng Yên cách riêng có đời sống đạo mang đậm tinh thần của con cái cha Thánh Đaminh, nhưng cũng đậm truyền thống của lễ nghi làng xã Bắc Việt.

Đối với con cái cha Thánh Đaminh, Kinh Rôsa luôn được đặt lên hàng đầu. Có lời truyền rằng: khi cha Thánh Đaminh đang cầu nguyện để xin cho được thắng bè rối Albigensê, thì Đức Mẹ đã hiện ra và trao cỗ tràng hạt, như là khí cụ để đánh thắng lạc giáo. Song các sách vở khác đã chép: truyền thống kinh Rôsa đã tự trước đó, nên ta chẳng thể lấy gì làm chắc chắn là kinh Rôsa có từ thời ông Thánh Đaminh. Ấy vậy chớ nên tranh cãi gốc tích làm chi, vì chưng kinh Rôsa thật là gia nghiệp của Dòng này, bởi lẽ Á Thánh Alan de la Roche O.P. là đấng hằng giảng và khuyến khích người ta đọc kinh Rôsa với 150 kinh Ave, và đã lập hội Rôsariô để cầu nguyện cho kẻ sống và kẻ chết qua kinh Rôsa, từ đó người cầu và người được cầu được các ơn ích. Lại thêm Đức Thánh Giáo Hoàng Piô V O.P. là con cái Dòng Thánh Đaminh đã ban sắc bulla Consueverunt Romani Pontifices ngày 17/09/1569 dạy bổn đạo khắp nơi năng cầu nguyện với kinh Rôsa, với thể thức đã được xác nhận trong sắc này: kinh Rôsa này lặp đi lặp lại lời Thiên thần chào Đức Mẹ 1/0 lần, tương ứng với 1/0 Thánh vịnh vua Đavít, khởi đầu trước 10 hạt sẽ đọc kinh Lạy Cha. Xen kẽ 10 hạt là các lời suy niệm về toàn bộ cuộc đời Chúa Giêsu. Sau đó, kinh Rôsa lại trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, khi quân Liên minh Thần Thánh đã chiến thắng quân Hồi giáo Ottoman tại trận hải chiến vịnh Lepanto ngày 07/10/1571, mà Đức Piô V cho rằng nhờ lời cầu nguyện của kinh Rôsa của khắp cả và bổn đạo trong Âu Châu, mà Đức Mẹ đã cầu bầu cùng Chúa cho ta được thắng, nên Người lấy ngày ấy làm lễ Đức Mẹ Chiến Thắng, sau đổi là lễ Đức Mẹ Rôsa cho đến rày.

Vậy, từ thời Đức Cha Thập mới vào Đàng Ngoài giảng đạo, thì bổn đạo đã biết đọc kinh Rôsa rồi, song chỉ mới biết làm dấu cùng đọc kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng, là các kinh do các đấng Dòng Tên đã dịch và dạy cho. Vậy Đức Cha Thập đã dịch kinh Sáng Danh ra tiếng nước Nam, cùng dạy cho bổn đạo đọc kinh ấy sau 10 hạt, trước khi vào hạt mới, cùng dạy bổn đạo trong lúc đọc kinh Rôsa trong nhà thờ với nhau, thì chia bè nam nữ ra mà đọc. Đoạn, Đức Cha Thập và Đức Cha Cao cũng lập các hội Rôsariô tại những xứ họ các đấng đến làm phúc nữa.

Vậy, kinh Rôsa nên như đời sống thiêng liêng không thể thiếu của bổn đạo địa phận Dòng. Khi sớm khi tối mặc lòng, bổn đạo hay đọc kinh lần chuỗi Rôsa, dù ở nhà thờ hay ở nhà riêng. Vậy hễ ai đến các xứ họ trong địa phận Trung, thì đều nghe những lời kinh vang lên nhịp nhàng trong từng gia đình. Bổn đạo chẳng ngại khi đọc kinh thành tiếng, dầu có những nhà kế bên là lương dân. Có người cho rằng việc ấy là quê mùa nông cạn, song le hãy xem các gương các đấng tử đạo đã được biên chép, vì nhờ chuỗi Rôsa họ lần hằng ngày trong tù mà vững vàng giữ đạo trước mặt quan quân chẳng nao.

Các hội đoàn trong địa phận Trung

Trong các họ đầu xứ cùng vài họ tùy thì thường có hai hội đoàn lớn này: đó là Dòng Ba Ông Thánh Đaminh và Hội Rôsariô. Về Dòng Ba Ông Thánh Đaminh thì gần như xứ họ trong địa phận Trung đều có người nhập dòng ba cả. Theo Sử ký Địa phận Trung, thì trong năm 1916 là có tới 12512 ông bà Dòng Ba, mà trong sổ các xứ trong địa phận Trung đều có ghi số các ông bà Dòng Ba ở đó. Họ là những bổn đạo đạo đức tốt lành, là gương mẫu cho các bổn đạo khác trong xứ, siêng năng xưng tội chịu lễ, nhất là Chúa nhật đầu tháng, nên thường bổn đạo hay nhờ các ông bà dòng ba cầu nguyện cho mình với, và hễ có đám ma nào, thì nhà hiếu hay quen mời các ông bà Dòng Ba đến nhà đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn mới qua đời. Các ông bà dòng ba thường đọc kinh phụng vụ với nhau ở nhà thờ theo giờ định, mà dầu cho ông bà nào đau bịnh thì cũng gắng sức đọc kinh ấy ở nhà riêng, hoặc giả như có năm sáu người bị ngăn trở thì họ đọc kinh tại nhà tư với nhau. Việc phước lành khác của Dòng Ba sinh ích cho địa phận là nhiều ông bà đã chuộc các trẻ ngoại đạo và rửa tội cho nhiều trẻ nguy tử, nhờ đó các trẻ ấy đã kịp lên Thiên đàng.

Về hội Rôsariô thì cả thảy các xứ đều gắng sức lập hội cách qui củ, thường là ở họ đầu xứ, song le nếu bổn đạo đông hay có họ nào xa thì họ tùy cũng lập nên hội ấy mà được ăn mày các ơn toàn xá mà Đức Piô V đã xác nhận. Từ khi các trẻ mới chịu lễ lần đầu, thì các trẻ ấy cũng được biên tên vào sổ hội Rôsariô, nên số người trong hội cũng ngang bằng với số bổn đạo trong xứ nữa. Vậy tại các họ đầu xứ thì mỗi ngày quen đọc một tràng, còn các họ khác thì quen đọc vào thứ bảy và Chúa nhật, lại có bổn đạo gửi tiền xin nhà thờ lần hạt cầu khấn sự gì lành hay cầu cho linh hồn chung riêng, hoặc cầu cho ông bà cha mẹ anh chị em họ hàng đã qua đời. Tối thứ bảy đầu tháng thì bổn đạo hay kiệu ảnh Đức Bà Rôsariô để ăn mày các phép nữa. Hội này vì mang nhiều ơn ích cho bổn đạo, nên các đời Đức Thầy đều mong cho thay thảy bổn đạo gia nhập Hội, mà viết nhiều thư chung khuyên giải lắm.

Ngoài ra thì còn có các hội sau như hội Lái Tim Đức Chúa Giêsu lập ra tại Tiên Chu trước hết, rồi đến Thái Bình, Ninh Cường, Quần Phương. Các xứ có họ này quen làm lễ kính Lái Tim Đức Chúa Giêsu vào thứ sáu đầu tháng cách trọng thể. Tiếp đó là hội bà Thánh Imelda lập tại Thái Bình năm 1915 dành cho các đồng nhi chịu lễ lần đầu, giúp các trẻ dọn mình chịu lễ cho nên, cùng kính mến Mình Thánh Đức Chúa Giêsu một ngày một hơn. Lại ở xứ Thái Bình cùng nhà tràng lý đoán Phú Nhai, nhà tràng Latinh Ninh Cường và nhà tràng kẻ giảng Trung Linh có hội Dây Ông Thánh Tômasô Tiến Sĩ dành cho các thầy nhà tràng, các chú Nhà Đức Chúa Trời cùng các chị em nhà phước và các bổn đạo xin được ơn giữ mình sạch sẽ qua lời bầu cử của ông Thánh Tômasô Tiến sĩ Thiên Thần, vì có tích rằng hai Thiên thần từ trời đã trao thắt lưng cho ông Thánh mà rằng: “Nhân danh Đức Chúa Lời, Ta đến trao cho Người chiếc đai của sự thanh khiết, mà chẳng kẻ nào có thể phá hủy được.

Sự thờ phượng trong các lễ Chúa Nhật tại Địa phận Trung

Vậy tại các xứ họ thì sớm tối đọc kinh Rôsa trong nhà thờ, mà trước tiên thì đọc mấy kinh này: là kinh Chúa Thánh Thần, kinh Tin, kinh Cậy, kinh Mến, kinh Ăn Năn Tội… rồi mới đến phép lần hạt Rôsa. Ban sáng thì lần năm chục hạt sự Vui, ban tối thì lần năm chục hạt sự Thương và Mừng, song có những nơi, nhất là trong họ nhà xứ, thì quen lần hạt Thương ban trưa, còn chiều tối thì đọc hạt Mừng. Ban tối, khi lần hạt đoạn, thì đọc kinh cầu Đức Bà, rồi kinh Cám Ơn mà kết thúc. Riêng thứ tư thì đọc kinh cầu Thánh Giuse, thứ sáu đọc kinh cầu Lái Tim. Lại sau khi đọc kinh Rôsa thì có đọc thêm vài kinh quen đọc khác nữa, trong đó là có kinh Cao Sang, là kinh do cụ cử Phêrô Phạm Trạch Thiện người làng Cốc Thành, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã diễn Nôm ra.

Vậy ban sáng khi lần hạt Vui đoạn, thì thầy cả bắt đầu làm lễ Missa. Đang khi cha làm lễ, thì đồng nhi hay thiếu nữ đọc kinh ngắm lễ cách khoan thai dịu dàng để cắt nghĩa các sự thầy cả làm lễ Missa trên bàn thờ, bởi lẽ thời ấy dân ta chữ ta còn không biết đọc, huống chi Latinh, nên có câu: Các thày đọc tiếng Latinh, Các cô thiếu nữ thưa kinh dịu dàng.

Trong ngày lễ Chúa nhật cùng lễ trọng, thì khi đọc kinh chung đoạn, thì đọc thêm kinh bản hỏi, cùng đọc bài cắt nghĩa Tin Mừng lễ hôm ấy, rồi thầy cả sẽ giảng giải trước, sau mới làm lễ. Lại có nơi quen chầu Mình Thánh Chúa cách trọng thể vào Chúa nhật đầu tháng và các ngày lễ trọng, song có nơi thì quen chầu Mình Thánh Chúa vào mỗi tối Chúa nhật.

Sự thờ phượng trong các Mùa Chay và Tam Nhật Thánh tại Địa phận Trung

Vậy trong Mùa Chay thì bổn đạo cũng quen ngắm đàng Thánh giá, song le có nơi thì thứ sáu quanh năm cũng đi ngắm đàng Thánh giá nữa. Tuần Thánh thì khởi đầu là Chúa Nhật Lễ Lá thì thầy cả làm phép lá, đến Thứ Năm Tuần Thánh thì bổn đạo đặt Mình Thánh Chúa trong Nhà Chầu cả ngày đến khuya, ban chiều thì làm lễ Missa, khi giảng lễ đoạn, thầy cả rửa chân cho mười hai đàn ông đóng thành mười hai tông đồ, mà có nơi các ông mặc áo trắng, có nơi mặc áo thụng, có nơi các ông đội mão đi gậy giống y giám mục, vì các tông đồ là đấng khởi thủy hàng giám mục, lại ở giữa có con chiên bằng xôi hay bông gòn được đốt lên.

Qua thứ sáu thì thầy cả cùng hai thầy hát Passio bằng tiếng Latinh, đoạn thì thầy cả rước Câu rút, tháo màn che rồi đặt Tượng Chịu Nạn giữa nhà thờ, có rải hoa nhài ướp tượng, để bổn đạo hôn kính. Chiều tối thì dựng tượng Chịu nạn lên, rồi ngắm 15 sự thương khó Đức Chúa Giêsu theo cung giọng não nề thảm thiết lắm. Mà ngắm 15 sự thương khó này có từ thời cha Alexandre de Rhodes S.J., vì ngài có ý bắt chước ngắm Tenebrae của Hội Thánh Tây phương để làm cho bổn đạo hiểu được ý nghĩa mầu nhiệm chịu chết của Đức Chúa Giêsu. Ngoài Bắc gọi là ngắm, trong Nam gọi là gẫm lễ đèn, mà đến sau tách địa phận Tây và địa phận Đông, thì cách ngắm cũng đã khác nhau, bởi ngoài cung giọng ra, thì các địa phận Dòng lại quen rước kiệu Chúa Giêsu vác Thánh giá, Đức Mẹ Sầu Bi và Thánh Gioan Tông đồ, mà cả ba đấng ấy đều mặc áo vải cả, trong khi đó bên địa phận Tây cùng địa phận Nam Kỳ thì dùng kèo, tức đèn 15 ngọn trong ngắm Tenebrae, và hễ đọc xong một sự thì tắt một đèn đi, trong khi bên địa phận Dòng thì chỉ bày hai cây đèn lớn hai bên cây Thánh giá, lại trong địa phận Dòng cũng chỉ có tháo đanh táng xác mà thôi.

Khi đọc hết 15 sự thương khó thì các thiếu nữ cầm nến tiến lên mà đọc dâng hạt. Đọc dâng hạt xong thì đến đọc đoạn. Đang lúc đọc có hai người bắc hai cái thang lên mà tháo đanh Đức Chúa Giêsu. Trước tiên họ đặt thang ở hai bên hông cây Thánh giá, rồi khi leo lên rồi, thì hai người cầm một đầu đoạn vải trắng dài, vắt qua thanh ngang của Thánh giá, rồi kéo xuống sao cho phần giữa của đoạn vải ôm lấy ngực Đức Chúa Giêsu cùng kẹp nách Người, rồi mới bắt đầu tháo đanh và hạ xác Chúa xuống, sau đó vẫn để thang và vải trắng trên Thánh giá. Hạ xác đoạn thì người ta đưa tượng Chúa đến trước trước Đức Mẹ Sầu Bi và trao mão gai cùng đinh cho Mẹ, rồi mới liệm bằng vải trắng toàn thân, chỉ lộ đầu và chân, đoạn táng xác Chúa trong một cỗ áo quan lộng kính được sơn son thếp vàng lộng lẫy, bên trong phủ bằng bỏng gạo, quen gọi là “nổ” hay “nả”. Khi đọc xong, thì bổn đạo kiệu áo quan Đức Chúa Giêsu quanh vòng nhà thờ, trước khi đặt vào trong “mồ” do bổn đạo dựng nên. Vậy xác Chúa được quàn trong đó từ tối thứ sáu đến trưa thứ bảy để cho bổn đạo hôn kính chân Chúa, cùng bốc “nả” về nhà dùng. Bây giờ thì trong địa phận Thái Bình ta không cho để nả trong áo quan Chúa nữa, từ thời Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ S.D.B. cho đến rày. Mà trong Thứ Bảy thì có Ngắm Dấu Đanh hay Ngắm Rằng, hay tự Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Sáu Tuần Thánh trước đó thì đã ngắm mặc lòng.

Đến lễ Phục Sinh thì bổn đạo quen rước kiệu ảnh Chúa Phục Sinh quanh nhà thờ, mà bổn đạo cũng quen kiệu ảnh Đức Mẹ cùng lúc. Khi kiệu một vòng nhà thờ rồi, thì để kiệu Chúa và kiệu Đức Mẹ đối diện nhau ở sân cuối nhà thờ, bấy giờ thì kiệu Đức Mẹ bái kiệu Chúa, đoạn hát ca vãn Đức Mẹ gặp Chúa Sống Lại, rồi mới vào nhà thờ mà làm lễ.

Sự thờ phượng trong các tháng và lễ trọng tại Địa phận Trung

Ngoài lễ Chúa Nhật là lễ buộc đương nhiên, thì bổn đạo phải buộc xem bốn lễ sau: lễ Sinh Nhật Đức Chúa Giêsu, lễ Đức Chúa Giêsu Lên Trời, lễ Đức Bà Lên Trời và lễ Các Thánh, còn các lễ Đặt Tên, Ba Vua, Đức Bà Đem Con Vào Đền Thờ, Ông Thánh Giuse, Truyền Tin, Săng Ty, Ông Thánh Gioan Baotixita, Ông Thánh Phêrô và Phaolô, Sinh Nhật Đức Bà, thì Tòa Thánh tha phép buộc xem lễ cùng kiêng việc xác, song le bổn đạo phải gắng sức siêng năng dự các lễ ấy, và các thầy cả dâng lễ này phải soạn bài giảng cùng kiệu ảnh… Bổn đạo lại phải ăn chay và kiêng thịt vào ngày thứ 6 trong mùa Chay, thứ 4 tuần Thánh và lễ Vọng Sinh Nhật Đức Chúa Giêsu, còn thứ 6 quanh năm, thứ 4 trong Mùa Chay, lễ Vọng Chúa Thánh Thần, lễ Vọng Đức Bà Lên Trời, thì phải kiêng thịt. Nếu ba ngày Tết mà trùng với ngày ăn chay kiêng thịt, thì Tòa Thánh tha phép trong ba ngày ấy, song phải chọn một ngày khác theo ý Đức Cha địa phận định cho.

Tháng ba là tháng kính ông Thánh Giuse, trong khi thầy cả tế lễ trong giót tháng ba này, cùng thứ tư quanh năm, thì bổn đạo đọc kinh Ông Thánh Giuse do Đức Piô X đã ban năm 1909, cùng kinh cầu Ông Thánh Giuse, cho được hưởng phép indu mà nhường cho các linh hồn. Nếu ai làm việc lành phúc đức có ý kính Ông Thánh Giuse, thì cũng được hưởng phép indu ấy vậy.

Đến tháng Năm là tháng hoa thì các xứ họ quen múa dâng hoa tiến cho Đức Bà ban tối, thường là đồng nhi cùng thiếu nữ, lại kiệu tượng Đức Bà cách trọng thể quanh nhà thờ, mà khi dâng hoa, thì đọc ca vãn dâng hoa, trong đó có bài Nghinh Hoa Tụng Kỳ Chương do cụ Cử Thiện đã dọn, mà ta đã nhắc từ trước.

Tháng sáu là tháng kính Lái Tim Đức Chúa Giêsu, trong khi dâng lễ Lái Tim Đức Chúa Giêsu chính ngày, các thầy cả sẽ dâng bổn đạo cho Lái Tim Chúa Giêsu, mà đang khi thầy cả dâng lễ thì bổn đạo đọc kinh Dâng Mình do Đức Lêô XIII đã ban năm 1899, rồi kinh Cầu Lái Tim để được hưởng indu. Nếu có Mình Thánh Chúa, thì được phép kiệu và đặt Mình Thánh Chúa trong chính lễ.

Tháng tám mồng bốn là chính lễ kính ông Thánh Đaminh là tổ phụ Dòng Kẻ Giảng, thì các đấng giảng đạo thuộc Dòng này cùng phần lớn các thầy cả bản cuốc hội nhau tại sở Cha Chính Dòng mà làm lễ trọng do Đức Thầy thân hành chủ tế, có các đấng thầy cả, các thầy, các chú Đức Chúa Lời, cùng bổn đạo đến từ hôm qua mà thông công. Lễ đoạn thì kiệu ảnh ông Thánh Đaminh chung quanh nhà thờ, sau đó thì tất cả hội nhau tại Nhà Chung, mà Đức Thầy ngồi nữa, Cha Chính cùng các cha thừa sai Dòng Đaminh ngồi hai bên Đức Cha, thì các đấng thầy cả bản quốc cùng các thầy các chú lạy riêng các đấng ấy cùng lạy chung để tỏ lòng biết ơn các đấng dòng Đaminh đã không ngại gian nan mà đến giảng đạo cho nước Nam để cho dân ấy biết đường rỗi.

Tháng Mười là tháng Rôsariô thì quen làm lễ chính ngày Đức Bà Rôsariô mồng 07/10 cách long trọng lắm, vì là quan thầy của Hội Rôsariô, mà cũng nhiều xứ họ nhận Đức Bà Rôsariô làm quan thầy nữa. Vậy ban sáng bổn đạo quen kiệu ảnh tượng Đức Bà Rôsa cách long trọng vào mỗi Chúa nhật trong tháng ấy, ban tối thì chầu Mình Thánh tại các họ có thầy cả. Lại trong tháng Rôsariô cùng các ngày Chúa nhật, thì bổn đạo quen đọc bài Văn Côi Thánh Nguyệt Tán Tụng Thi Ca, là bài diễn ca 15 mầu nhiệm Rôsariô, được cho là cụ Cử Thiện đã được nhắc ở trên đã dọn.

Tháng Mười Hai mồng Tám là chính lễ Đức Bà Chẳng Hề Mắc Tội Tổ Tông, thì các đấng cũng hội nhau về Phú Nhai làm lễ do Đức Thầy chủ sự cùng kiệu ảnh, song không có hội nhau tại Nhà Chung, mà sau đó thì các đấng thầy cả sang Bùi Chu bắt đầu cấm phòng vào chiều tối hôm ấy.

Vậy trong các lễ trọng kể trên thì Đức Thầy khuyên bảo các thầy cả năng ngồi tòa để giải tội, và khuyên bảo bổn đạo xưng tội chịu lễ trong lễ ấy trong trong cả tháng kính ấy, để hưởng ơn toàn xá mà Tòa Thánh đã ban cho bổn đạo.

Kỳ làm phúc, tức tuần tĩnh tâm và xưng tội chịu lễ trong địa phận Trung

Song le vì lợi ích cho các linh hồn trong toàn địa phận, thì trong năm phải có hai kỳ làm phúc: ấy là việc giảng cấm phòng, ban phép giải tội và cho bổn đạo chịu lễ, vì luật Hội Thánh dạy bổn đạo trong một năm phải xưng tội một năm ít là một lần, cùng chịu lễ trong Mùa Phục sinh, ít là một lần. Một kỳ là vào Mùa Chay, bắt đầu từ Tháng Hai trở đi cho đến hết Mùa Phục Sinh, và thêm một kỳ là từ Lễ Đức Bà Lên Trời 15/08 đến Lễ Các Thánh 01/11. Vậy trong kỳ làm phúc ấy thì các đấng phải dành cả tuần để lo các việc phần hồn cho bổn đạo, hầu thay thảy đều được lãnh các phép. Nhưng trước khi xưng tội chịu lễ, nhất là các trẻ từ 10 tuổi trở lên, thì phải chịu khảo kinh để xem đủ khôn để chịu các phép ấy chưa. Thường thì Đức Thầy hay đi ban phép thêm sức trong kỳ làm phúc thứ hai.

Mà nếu đã nói sự thờ phượng trong địa phận, mà chẳng nhắc đến tuần Chầu lượt, thì thật thiếu sót lắm. Vậy Chầu lượt là việc một xứ thay mặt địa phận chầu Mình Thánh Chúa trong bốn mươi giờ. Vậy trong một năm thì mỗi xứ sẽ thay phiên nhau để làm tuần Chầu lượt thay mặt địa phận, mà phiên thứ ấy được ấn định trong lịch địa phận mà chớ. Vậy tuần Chầu lượt bắt đầu từ chiều Thứ sáu đến sáng Chúa nhật, tương ứng 40 giờ Chúa Giêsu chịu chết trong mồ, mà trong dịp chầu lượt, khi thầy cả tế lễ đoạn, Người mở nhà tạm lấy Mình Thánh Chúa mà vào hào quang và xông hương. Tiếp đó Người trùm khăn lên vai để che tay, rồi cầm hào quang rước ra ngoài, mà trước tiên có Thánh giá đèn hầu, các giúp lễ rung chuông, rồi đến ban kèn, ban trống, đồng nhi nữ mặc áo dài cùng đội khăn trắng ca vãn các kinh, rồi đến các ông bà trong các hội, các ông bà Dòng Ba, sau cùng là thầy cả tay cầm hào quang, mà trên người có lọng vuông do bốn người cầm cán, mà ta gọi là “phương du”, mà trước đó có hai chú hay thầy giúp lễ, một người cầm bình hương, một người cầm tàu hương. Khi đến một trạm chầu, thì thầy cả đặt Hào quang trên bàn độc của trạm ấy, mà đọc các kinh nguyện, sau đó ban phép lành Sacramento. Đến trạm cuối, thường là vào lại nhà thờ, thì hát Tu es Petrus và Tantum Ergo, rồi ban phép Sacramento cho bổn đạo, đoạn cất Mình Thánh Chúa vào nhà tạm. Lại bởi trong dịp chầu lượt nầy, vài thầy cả cùng bổn đạo xứ họ khác cũng đến thông công, nên tuần chầu lượt cũng trở nên một ngày hội cho xứ họ tổ chức, cho nên bổn đạo trong xứ trong làng, theo khoán lệ phải ra sức góp công của để cho việc tổ chức tuần chầu. Vậy trong dịp này, người người ra sức trang hoàng thánh đường, bàn thờ cùng các trạm chầu cho lộng lẫy đẹp đẽ, các đội kèn, ban trống, phường bát âm ra sức tập luyện cho buổi lễ thêm phần rộn ràng. Lại có vài xứ thì tổ chức cỗ bàn sau tuần chầu lượt nữa. Đến nay vì điều kiện xã hội, tuần chầu lượt đã có vài sự giảm bớt, như có xứ chỉ chầu tự chiều thứ bảy đến sáng Chúa nhật mà thôi, lại giảm bớt các sự rườm rà không cần thiết, cũng như tiết chế việc ăn uống, để tránh sự thế tục trong dịp lễ thánh thiêng.

Các ban bệ trong xứ và làng Công giáo

Lại nói về việc chung trong các xứ họ, thì mỗi xứ có một ban các kỳ mục lo việc xứ đạo, gọi là ban hành giáo. Đứng đầu ban này là ông Chánh trương, tiếp đó là ông Phó trương, một hay hai mặc lòng, rồi ông Thư ký lo giữ sổ sách nhà thờ. Dưới các xứ thì có các họ giáo, mà đứng đầu là các ông Chánh phó trùm cùng ông Thư ký họ giáo, giống như hàng xứ vậy. Lại trong mỗi họ giáo, nhất là họ nhà xứ, thì địa giới rộng quá, mà bổn đạo lại đông, nên trong các họ lại có các giáp, giâu, khu, xóm mặc lòng, và đứng đầu thì cũng là các ông Chánh phó trùm giáp vậy. Ngoài ra, trong xứ họ còn cắt đặt các ông bà quản, là những người siêng năng ngoan đạo, thông suốt kinh sách, để coi sóc và dạy kinh cho các trẻ trong họ, cùng đưa chúng nó đến nhà thờ đọc kinh tối sớm, và dạy các phép tắc nghiêm trang khi ra vào nhà thờ. Trong mỗi giáp, dâu, khu, xóm cũng có những ông bà quản cho từng khu, và mỗi khu thay phiên nhau đọc kinh trong nhà thờ. Lại có những người đàn ông khỏe mạnh lo việc coi sóc kẻ liệt, ấy là giúp kẻ liệt dọn mình để lãnh Mình Thánh Chúa cho phải phép, lo liệu rước đấng thầy cả đến xức dầu cho kẻ ấy, và nếu không có thầy cả, thì phải đọc kinh phú linh hồn ấy để xin chết lành vậy. Vì họ là những người đã bỏ công bỏ sức cho việc cho xứ họ, nên khi họ mất, thì trong xứ trong họ có bổn phận xin lễ cầu nguyện cho họ.

Hương ước làng Ngọc Đồng lập ngày 15 tháng 3 năm Quý Sửu (1913), niên hiệu Duy Tân thứ 7. Nguồn: Viện Nghiên Cứu Hán Nôm.
Hương ước làng Ngọc Đồng lập ngày 15 tháng 3 năm Quý Sửu (1913), niên hiệu Duy Tân thứ 7. Nguồn: Viện Nghiên Cứu Hán Nôm.

Thường thì một họ tương đương với một làng, nên đối với các làng toàn tòng, thì gần như các ông bà trong ban hành giáo cũng là hội đồng kỳ mục của làng, trừ khi là làng gián tòng hoặc định liệu cách khác. Vậy như bao làng xã Bắc Kỳ xưa, thì các họ giáo cũng có hương ước với các mục thuế khóa, tạp dịch, tuần phòng, trợ cứu, công sản, vị thứ, tiết lệ, khao vọng, phong tục… song khác ở chỗ: mục tiết lệ, tức việc lễ lạy trong họ, chính là lễ quan thầy của họ giáo cùng các lễ trọng khác, mà thầy cả là người đương nhiên đứng ra dâng lễ, và khi tổ chức các lễ ấy, thì dân làng phải đóng tiền theo khoán lệ cho việc chung. Lại có sự phạt tiền cùng đánh roi cho những người không vâng các việc đạo nữa, như điều 3 trong hương ước làng Ngọc Đồng, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, lập năm Duy Tân thứ 7 (1913) có lệ như sau: Mỗi kỳ làm phúc, bất kể trai gái, hễ từ / tuổi trở lên thì phải đến nhà thờ nghe cấm phòng để đi xưng tội, ai không đến thì lần 1 phạt 3 tiền, lần 2 phạt 6 tiền cùng chịu 30 roi, nếu là bậc đàn anh kẻ ấy mà không khuyên bảo thì phạt gấp đôi. Lần thứ ba thì đem lên cho cha xử phạt, mỗi lần là / ngày. Nếu chưa xưng tội thì phải trình báo cho ông trùm lý do tại sao, bằng không thì một lần bỏ xưng tội thì đánh 20 roi. Trong nhà thờ là nơi trang nghiêm, nếu ai làm sự lộn xộn trong nhà thờ thì bị bắt phạt tiền cùng chịu đánh đòn. Sau cùng khi con trẻ đến /, 8 tuổi thì phải cho nó vào hội Đồng nhi để học kinh, nếu không gửi con vào hội, đến kỳ làm phúc mà nó không thuộc kinh sách gì, thì cha mẹ bị phạt 3 quan, con bị đánh 20 roi.

Nhà phước Dòng Ba Đaminh tại địa hạt Thái Bình và Hưng Yên

Các dì nhà phước Dòng Ba Đaminh.
Các dì nhà phước Dòng Ba Đaminh.

Về phần nhà phước Dòng Ba Đaminh, hay quen gọi là nhà mụ, thì trên phần đất địa phận Thái Bình, chỉ có nhà phước Dòng Ba Đaminh mà thôi. Trước kia ở Thái Bình có nhà phước Mến Thánh Giá ở Bác Trạch, song đã không còn từ lâu. Vậy nhà phước Dòng Ba Đaminh là một tu viện dành cho các chị em đồng trinh hay thủ tiết muốn tận hiến đời mình cho Chúa mà sống chung với nhau, cùng giữ các lề luật mà các đấng Bề trên đặt ra. Tuy các dì có khấn, song le lời ấy chưa phải là lời khấn theo luật Hội Thánh, vì không có nhà tập riêng.

Về công việc của các dì như sau: thường nhật, các dì làm ruộng, đi chợ, bán thuốc để có tiền trang trải cho 30 Chớ nhầm lẫn với Tu viện Mến Thánh Giá Tân Lập – Cộng đoàn Bác Trạch, vì cộng đoàn này mới ra năm 2000, và lập nhà trên đất hương hỏa của Đức Ông Giêrônimô Nguyễn Phúc Hạnh.

nhà mụ. Các dì hay ra ngoài chuộc trẻ mồ côi cùng trẻ ngoại đạo mà dạy dỗ nó, nếu nguy tử thì rửa tội cho nó ngay. Ngoài ra, các dì còn tận tâm dạy giáo lý cho đàn bà cùng đồng nhi nữ cho được chịu phép rửa tội cho phải phép, cùng các việc cần kíp khác là chăm lo kẻ liệt trong các nhà thương nữa.

Vậy trước tiên, bên Hưng Yên có bốn nhà phước là Ngọc Đồng, Cao Xá, Tiên Chu và Viên Tiêu, và hai nhà bên Thái Bình là Kẻ Hệ, được lập từ thời Đức Cha An, và Trung Đồng, được lập năm 1916 bởi cha xứ Đaminh Nguyễn Trí Tuệ. Đến sau mới bắt đầu có các nhà phước mới, khởi đầu là nhà phước Cao Mộc do cha chính Thái lập nên để lo việc nhà thương Người mới lập, rồi sau có mấy nhà phước nữa.

Đến năm 1938, khi làm sổ cho địa phận Thái Bình, thì thấy có mấy nhà sau: Ninh Cù, Trung Đồng, Ngọc Đồng, Cao Mộc, Viên Tiêu, Tiên Chu, Phương Xá, Đông Thành, Bồ Ngọc, Cổ Việt, Thân Thượng31.

Ngoài ra, đến năm 1916, trong tỉnh Thái Bình có bảy nhà thiên thần (cô nhi viện), tỉnh Hưng Yên có ba nhà, trong đó nhà thiên thần Thánh Giuse tại tỉnh lỵ Hưng

Yên là to lớn rộng rãi hơn cả. Lại có các nhà thương ở Ngọc Đồng lập năm 1898 thời cha chính Moreno (Trinh) O.P., Kẻ Hệ, Xá Thị, Quỳnh Lang lập năm 1908, Cao Mộc lập năm 1917 thời cha chính Sedano (Thái) O.P. Các nhà này được giao cho các dì phước coi sóc.

Đức Cha Trung làm phép nhà làm phước ở Hưng Yên.Nguồn: Lê Trung Phúc.
Đức Cha Trung làm phép nhà làm phước ở Hưng Yên. Nguồn: Lê Trung Phúc.

NHỮNG BUỔI BAN MAI (1936-1954)

Phân chia địa phận

Thập niên 30, Tòa Thánh nhận thấy rằng địa phận Bùi Chu quá rộng lớn, với lại địa phận ấy cũng đã chín muồi để trao cho hàng giáo sĩ bản quốc, mà khởi đầu bằng việc Tòa Thánh bổ nhiệm cha Đaminh Hồ Ngọc Cẩn làm giám mục phó địa phận Bùi Chu.

Ngày 09/03/1936, Đức Thánh Cha Piô XI đã ban sắc lệnh Praecipuas Inter Apostolicas thành lập Tân Địa phận Tông tòa Thái Bình. Văn bản ấy có hai ý nghĩa lớn: trước là thành lập thêm một tân địa phận để có thể thăng tiến đời sống giáo dân trong hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên, sau là từng bước giao quyền tài phán địa phận Bùi Chu cho hàng giáo sĩ bản quốc.

Cùng thời điểm này, Đức Thánh Cha Piô XI cũng bổ nhiệm cha Juan Casado Obispo Thuận O.P., khi ấy là quản lý địa phận Bùi Chu kiêm quản hạt Khoái Đồng, làm giám mục tiên khởi, song đến ngày 15/06/1936, thì Tòa Thánh mới chính thức ban Tông sắc bổ nhiệm ngài làm giám mục Hiệu tòa Barata, Đại diện Tông tòa tân Địa phận Thái Bình.

Tiểu sử Đức Giám mục tiên khởi Juan Casado (Thuận) O.P.

Đức Cha Juan Casado Obispo (Thuận) O.P
Đức Cha Juan Casado Obispo (Thuận) O.P

Đức Cha Juan Casado Obispo (Thuận) O.P. sinh ngày 27/12/1886 tại Fuentecén, Osma, tỉnh Burgos, Tây Ban Nha. Ngài mặc áo dòng Đaminh vào ngày 07/12/1902 và khấn đơn vào ngày 08/12/1903 tại Ocaña, khấn trọng thể vào ngày 08/12/1906 tại Avila. Sau đó, ngài được bài sai đến phục vụ tại Địa phận Trung thuộc Bắc Việt. Ngài được thụ phong linh mục ngày 28/01/1911 chung với thầy Luis Fernandez Hòa O.P. tại Nhà thờ Phú Nhai. Sau thời gian học Tiếng Việt tại Nhà Chung Phú Nhai, ngài được bổ nhiệm làm phó xứ Quần Phương, phó xứ Phú Nhai một ít lâu, đến năm 1912 thì bổ nhiệm làm chánh xứ Quất Lâm kiêm nhiệm các họ Thức Hóa, Sa Châu, Ngưỡng Nhân. Đến năm 1924, ngài làm ký lục cho

Đức Cha Munagorri Trung O.P. Năm 1926, ngài được bổ nhiệm làm Quản lý Địa phận kiêm Quản hạt Khoái Đồng cho đến ngày được bổ nhiệm làm tân giám mục Thái Bình. Ngày 02/08/1936, ngài đã chịu chức giám mục tại Nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình, với sự chủ phong của Đức Cha Francisco Gomez de Santiago Lễ O.P., giám mục địa phận Hải Phòng, Đức Cha Eugenio Artaraz Emaldi Chỉnh O.P., giám mục địa phận Bắc Ninh, và Đức Cha Đaminh Hồ Ngọc Cẩn, giám mục địa phận Bùi Chu, phụ phong. Cùng hiện diện cũng có Đức Cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, giám mục địa phận Phát Diệm.

Đức Tân Giám mục địa phận Thái Bình tiến vào Thánh đường. Ảnh: BAVH.
Đức Tân Giám mục địa phận Thái Bình tiến vào Thánh đường. Ảnh: BAVH.
Thánh lễ Tấn phong Giám mục cho Đức Cha Casado ThuậnO.P. Ảnh: BAVH.
Thánh lễ Tấn phong Giám mục cho Đức Cha Casado Thuận O.P. Ảnh: BAVH.

Nhân sự của tân địa phận Thái Bình

Vào thời điểm chia tách, Địa phận Thái Bình, gồm hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên có 1 triệu 7 dân, trong đó có 140000 tín hữu, 80 linh mục, 250 thầy giảng, 300 nữ tu, 380 nhà thờ, chia thành 9 hạt gồm 49 xứ.

Khi chia tách Địa phận Bùi Chu và Thái Bình, ắt hẳn sẽ có sự phân chia về nhân lực và vật lực. Trước mắt, cả hai đấng bậc đều thống nhất như sau: toàn bộ các cha thừa sai Dòng Đaminh đang phục vụ tại Địa phận Bùi Chu sẽ chuyển về Địa phận mới theo như Tông sắc Thành lập Địa phận, qua văn bản chính thức của

Bề trên Tỉnh dòng Rất Thánh Mân Côi ngày 31.10.1936, song trên thực tế các cha Đaminh đã qua Thái Bình từ ngày 01.08.1936, còn các cha Việt Nam thì ai ở nhiệm sở nào thì nhập vào địa phận nhiệm sở đó, song vì để có chỗ cho các cha dòng Đaminh làm mục vụ, nên có 13 cha Việt Nam từ Thái Bình chuyển về Bùi Chu32 (như cha Giêrônimô Trần Thành Hiến, cha Giuse Phạm Văn Lục, cha Giuse Phạm Đình Súy, cha Đaminh Phạm Bảo Huấn…), phần địa phận Bùi Chu thì có một số ít cha vì là con cha cố Tây hoặc chịu ơn Đức Cha Casado cách đặc biệt nên về nhập địa phận mới Thái Bình (như cha cố Đaminh Đỗ Minh Chuẩn, cha cố Đaminh Trần Ngọc Trác…) Về phần tài sản, dẫu cho sự mâu thuẫn như sự việc Tu viện Quần Phương, thậm chí đến mức căng thẳng, phải nhờ Tòa Thánh và Tỉnh dòng can thiệp, song cũng phần nào giải quyết ổn thỏa.

Các cha Dòng Đaminh khi ấy gồm các cha: Juan Serra Thiều O.P., Eustache Garcia Khiết O.P., Serapio Gil Khiêm O.P., Eugenio Andres Kiên O.P., Juan Sedano Thái O.P., Francisco Romon Y O.P., Alejandro Gallego Nam O.P., Teodoro Conde Thập O.P., Eugenio Gonzalez Lâm O.P., Dominicano Alvarez Cao O.P., Francisco \urdo Trinh O.P., Bernardo Llobera Yên O.P., Faustino Rengel Lễ, O.P., Jacobo Nuñez Hạnh O.P., Adelfo de Celis Tăng O.P. và Antonio Fernandez Xuyên O.P. Sang năm 1937, có các cha phục vụ là cha Luis Fernandez Hòa O.P. và cha Heraclio Aragon Đức O.P. Năm 1938, có thêm hai thừa sai là cha Teodoro Gonzalez Hiển O.P. và Thomas Labayen Trung O.P. Năm 1943 có thêm hai thừa sai là cha Gines Gonzalez Thịnh O.P., Martin Alonso Vượng O.P và Juan Rodriguez Khoan O.P. Đầu tiên, Đức Cha đặt cha Jose Sedano Thái O.P. làm Cha chính Địa phận, sau đổi cho cha chính Eustaquio Garcia Khiết O.P. để cha Thái làm cố vấn, rồi đặt cha Francisco Romon Y làm ký lục cho ngài.

Còn các thầy, các chú đang học ở chủng viện thì theo địa phận của cha nghĩa phụ. Tuy nhiên, một số chú có nguyện vọng muốn về Bùi Chu thì dù ngăn trở, các cha nghĩa phụ của các chú ấy cũng sẵn lòng cho về hoặc gửi cho một cha thân quen bên ấy coi sóc. Các đại chủng sinh tiếp tục học tại Đại Chủng viện Thánh Albertô Nam Định là Chủng viện Miền cho Địa phận Dòng. Và ngày 23/05/1938, bốn tiến chức đầu tiên của địa phận đã được Đức Cha Casado Thuận phong chức linh mục tại Nhà thờ Chính tòa Thái Bình: Giuse Trần Trọng Hậu, Đaminh Trịnh Đức Luyện, Đaminh Đinh Đức Trụ và Đaminh Phạm Hữu Tư. Sau đó, mỗi năm có khoảng 2-3 tân linh mục được phong chức.

Văn bản bổ nhiệm các thừa sai Đaminh phục vụ tại Địa phận Thái Bình ngày 31.10.1936.Nguồn: Văn khố Dòng Đaminh tại Avila.
Văn bản bổ nhiệm các thừa sai Đaminh phục vụ tại Địa phận Thái Bình ngày 31.10.1936. Nguồn: Văn khố Dòng Đaminh tại Avila.

 

Đại Chủng viện Miền Thánh Albertô Cả Nam Định
Đại Chủng viện Miền Thánh Albertô Cả Nam Định

Đại Chủng viện Miền Thánh Albertô Cả Nam Định, công trình do cha quản lý Casado Thuận và thầy già Yến đốc công. Đối với các tiểu chủng sinh và các chú tràng thử, nhu cầu cấp bách khi ấy của Đức Tân Giám mục là làm sao tìm được chỗ để đào tạo 150 em. Vì thế, trong niên khóa đầu 1936-1937, Đức Cha Đaminh Hồ Ngọc Cẩn đã cho tân Địa phận Thái Bình mượn Tiểu Chủng viện Ninh Cường làm nơi nương náu có các em tiểu chủng sinh, gồm 3 lớp, tổng là 20 trò, và các em tràng thử 4 lớp, tổng là 130 trò. Đức Cha đặt cha Francisco urdo Trinh O.P. làm bề trên Tiểu Chủng viện, cha Eugenio Gonzalez (Lâm) O.P. làm bề trên Trường thử. Về cơ sở đào tạo thầy giảng, Đức Cha đặt tại Ngọc Đồng, cử cha xứ là cha Bernardo Llobera (Yên) O.P. làm bề trên.

Công nghiệp Đức Cha Thuận đã làm

Những điều Đức Cha làm ở trên nhằm mục đích kéo dài thời gian, trong khi xây dựng các cơ sở mới. Với kinh nghiệm từng làm Quản lý Địa phận, từng xây dựng nhiều công trình như Nhà Chung Quất Lâm, Nhà thờ Thức Hóa, và đặc biệt là Đại Chủng viện Thánh Albertô Nam Định, lại thêm sự trợ sức của thầy già Yến, nên không gì khó hiểu khi chỉ trong một thời gian ngắn, ngài lại xây dựng được nhiều công trình thiết yếu cho địa phận mới.

Đầu tiên, một chủng viện ba tầng với kích thước dài 90m, rộng 14m, cao 13m đã mọc lên giữa làng Mỹ Đức xứ Cát Đàm bên sông Trà Lý, dâng kính Thánh Thomaso Tiến sĩ, và được khánh thành vào ngày 08/09/1937, với cha bề trên mới là cha Luis Fernandez Hòa O.P.

Chủng viện Mỹ Đức Thái Bình.
Chủng viện Mỹ Đức Thái Bình.

Tiếp đến, ngài cho xây dựng Tòa Giám mục Thái Bình ba tầng với kích thước dài 90m, rộng 12m, cao 13m bề thế kế bên nhà thờ chánh tòa, hoàn thành năm 1938. Phía trước Tòa Giám mục có đặt tượng Thánh Tâm Chúa Giêsu là quan thầy giáo phận. Cũng trong năm 1938, Đức Cha đã khánh thành Nhà Thiên thần An Lập, cách Tòa Giám mục Thái Bình 13km, nơi nuôi dưỡng khoảng 100 trẻ bị bỏ rơi, giao cho các dì phước Đaminh chăm sóc.

Tại phần đất tỉnh Hưng Yên, Đức Cha đã cho xây dựng cơ sở đào tạo thầy giảng tại phần đất mà cha Separio Gil Khiêm O.P. đã mua đất tại thành Hưng Yên trước đó, là nơi đổ máu của nhiều vị tử đạo. Nguyện vọng của Đức Cha đã thành sự thật, một tòa nhà ba tầng sừng sững đã được mọc lên để làm trường Thầy giảng, và được khánh thành vào ngày 10/10/1942. Cha Luis Fernandez Hòa O.P., Bề trên Chủng viện Mỹ Đức, được đặt làm Bề trên tiên khởi.

Ngoài ra, trên phần đất thuộc họ Cát Đàm, xứ Sa Cát, kế chủng viện Mỹ Đức Thái Bình, cha Francisco Romon Y (là người đã đốc công xây dựng Đền Thánh Phú Nhai hiện nay) đã cho xây dựng trụ sở Cha Chính Miền Dòng (Vicario Provincial) với một ngôi nhà ba tầng dài 32m, rộng 12m và sở ruộng rộng 10000m2, mà trước đó dự kiến sẽ làm Tòa Giám mục tại đây. Kể từ đó, đây là trụ sở của các Cha Đại diện Dòng Đaminh tại Bắc Việt cho đến năm 1951 thì chuyển lên Tu viện Khoái Đồng Nam Định.

Trường Thầy giảng Hưng Yên.
Trường Thầy giảng Hưng Yên.

Ngoài ra, trong thời gian này, nhiều Thánh đường đã được xây dựng, trùng tu, trong đó phải kể đến những Thánh đường do các Đấng bậc Dòng Đaminh coi sóc: nhà thờ Thân Thượng được xây dựng vào năm 1938, hoàn thành năm 1944, dưới thời cha Heraclio Aragon Đức O.P., nhà thờ Bác Trạch được xây dựng vào năm 1937, hoàn thành năm 1939, dưới thời cha xứ Alexandro Gallego Nam O.P. và cha phó Giuse Phạm Kim Bảng, nhà thờ Ngọc Đồng được xây dựng vào năm 1938 và khánh thành vào ngày 15.12.1940 dưới thời cha xứ Bernando Llobera Yên O.P. và các cha phó Antonio Fernandez Xuyên O.P., Giuse Lê Quang Oánh và Thomas Trần Công Tính.

Nhà nguyện Đại chủng viện Mỹ Đức
Nhà nguyện Đại chủng viện Mỹ Đức

Phần nhà thờ Chánh Tòa, năm 1939, cha Faustino Rengel Lễ đã nối dài Thánh đường thêm phần cánh Thánh giá và làm lại Tòa mới.

Đức Cha Casado Thuận cũng tiến hành việc thiết lập nhiều tân giáo xứ trong giáo phận và nhiều Hội đoàn Công giáo Tiến hành. Ngài rất cổ võ các Hội đoàn trong Địa phận, trong đó có hai phong trào là Nghĩa Binh Thánh Thể và Thanh niên Công giáo đang phổ biến tại Bắc Kỳ khi ấy.

Xem Thêm:  Đôi Dòng Lịch Sử Tiểu Chủng Viện Địa Phận Thái Bình Di Cư (1954-1962) | Phần II

Năm 1938, nhiệm sở của các cha thừa sai Dòng Đaminh tại Thái Bình như sau: Đức Cha Juan Casado Thuận và cha Francisco Romon Y ở Tòa Giám mục Thái Bình, cha chính Eustaquio Garcia Khiết và cha Heraclio Aragon Đức ở Thân Thượng, cha cố vấn Jose Sedano Thái ở Cao Mộc, cha Faustino Rengel Lễ ở

Thái Bình, cha Teodoro Conde Thập ở Bích Du, cha Alexandro Gallego Nam ở Bác Trạch, cha Separio Gil Khiêm ở Hưng Yên, cha Dominicano Alvarez Cao ở Cao Xá, cha Bernando Llobera Yên và cha Antonio Fernandez Xuyên ở Ngọc Đồng, cha Aldelfo de Celis Tăng ở Khoái Đồng. Ban giáo sư Chủng viện Mỹ Đức gồm: cha giám đốc Luis Fernandez Hòa, cha phó giám đốc Francisco \urdo Trinh, cha giám linh Juan Serra Thiều và cha giáo Jacobo Nuñez Hạnh.

Đức Cha Thuận xa giáo phận và qua đời, Cha Chính Thái tạm quyền

Công việc đang suôn sẻ thuận lợi, thì ngày 26/04/1939, Đức Cha Juan Casado Thuận lên đường sang Rôma để yết kiến Đức Tân Giáo hoàng Piô XII, cũng như báo cáo về tình hình của tân địa phận, nhân đó, ngài cũng về thăm quê nhà Tây Ban Nha một ít lâu. Trước khi đi, ngài giao quyền tài phán giáo phận cho cha chính Eustaquio Garcia Khiết O.P. và cha chính Luis Fernandez Hòa O.P.

Thế nhưng, Thế chiến II nổ ra, ngài đành phải ở lại thủ đô Madrid để chờ dịp. Trong thời gian này, ngài đã phụ giúp Giáo hội quê hương Tây Ban Nha một số công việc mục vụ cho các giáo phận. Tưởng chừng đây chỉ là cuộc xa cách tạm thời, thế nhưng, vào lúc 22h00 ngày 20.01.1941, Đức Cha Juan Casado Thuận đã được Chúa gọi về cách đột ngột tại Villareal – Castellon, để lại một giáo phận còn non trẻ mà ngài đã dốc công dốc sức gầy dựng. Hiện nay, mộ phần ngài đang an vị tại Tu viện của Tỉnh dòng tại Avila.

Khi Đức Cha Juan Casado Thuận qua đời, theo chúc thư, việc điều hành giáo phận được giao cho cha Jose Sedano Thái O.P. từ ngày 25/01/1941 cho đến khi có Đức Giám mục mới là Đức Cha Santos Ubierna Ninh O.P.

Cha Jose Sedano Thái O.P
Cha Jose Sedano Thái O.P

Cha Jose Sedano Thái O.P. sinh ngày 22/06/1873 tại Campino, tỉnh Burgos. Ngài mặc áo dòng Đaminh ngày 15/12/1891, khấn đơn ngày 16/12/1892 và khấn trọng ngày 18/12/1895 tại Ocaña, sau đó học thần học tại Avila và chịu chức linh mục năm 1900, rồi nhận bài sai sang

Địa phận Trung khoảng năm 1902. Sau thời gian học tiếng Việt, ngài được bài sai làm phó Sa Cát, đến năm 1905 thì được bài sai làm chánh xứ Cao Mộc. Sau khi có Đức Tân Giám mục, ngài tiếp tục ở nhiệm sở Cao Mộc. Sinh thời, ngài là một mục tử thánh thiện, luôn hết mình vì đoàn chiên, nên được người ta hay gọi là “Cha Thánh Giuse Thái”. Ngày 21/02/1946, đang khi ngài đang nghỉ trưa ở Tu viện Cát Đàm để buổi chiều trở về Cao Mộc, thì một toán vũ trang đã ập tới trói tay ngài, đưa lên xe cam nhông chạy mất. Cuối cùng, ngài bị chúng lột tu phục, ném xuống sông Trà Lý. Khi ngài thoát trói và bơi vào bờ, một tràng súng đã nổ. Qua hôm sau, giáo dân Cát Đàm tìm được ra thi hài cha, và đã mai táng ngài ở đất thánh của Dòng trong khuôn viên nhà thờ Cát Đàm.

Tiểu sử Đức Cha Santos Urbiena Ninh O.P.

Sau một năm trống tòa, ngày 24/02/1942, Đức Thánh Cha Piô XII đã bổ nhiệm cha Santos Ubierna Ninh O.P., 34 tuổi, khi ấy đang là Phó Giám đốc Đại Chủng viện Thánh Albertô Nam Định, làm Giám mục Hiệu tòa Lamdia, Đại diện Tông tòa Địa phận Thái Bình.

Đức Cha Santos Urbiena Ninh O.P.
Đức Cha Santos Urbiena Ninh O.P.

Đức Cha Santos Ubierna Ninh O.P. sinh ngày 01/11/1907 tại xã Huérmeces, tỉnh Burgos, thuộc giáo xứ Thánh Gioan Baotixita. Ngài mặc áo dòng Đaminh ngày 29/07/1923 và khấn đơn ngày 03/08/1924 tại Avila, sau đó, ngài được chuyển sang học thần học tại Học viện của Tỉnh dòng tại Rosaryviile, Louisiana, Hoa Kỳ, và đã khấn trọng thể tại đây vào ngày 02/11/1928. Sau đó, ngài được gửi đi học tại Ottawa, Canada để học Tiếng Pháp và Thần học, tại đây, ngài được thụ phong linh mục ngày 19/12/1930, và hoàn thành bằng Lectorate Thần học ngày 22/06/1932 và được bài sai đến phục vụ tại Địa phận Bùi Chu. Sau một năm đau bệnh nơi vùng truyền giáo, tháng 10.1933, ngài được bổ nhiệm làm Giáo sư môn Triết lý và Lịch sử Giáo hội tại Đại Chủng viện Thánh Albertô Nam Định. Ngày 30/03/1941, ngài được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Đại Chủng viện cho đến khi được bổ nhiệm làm Giám mục Địa phận Thái Bình.

Ngày 21/09/1942, ngài đã chịu chức giám mục tại Nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình với sự chủ phong của Đức Khâm sứ Tòa Thánh Antonin-Fernand Drapier O.P. Đức Cha Francisco Gomez de Santiago Lễ O.P., giám mục địa phận Hải Phòng và Đức Cha Eugenio Artaraz Emaldi Chỉnh O.P., giám mục địa phận Bắc Ninh, phụ phong. Vào thời điểm ngài tấn phong giám mục, ngài là giám mục trẻ nhất trong Giáo hội Đông Dương, và là một trong những giám mục trẻ nhất thế giới.

Đức Cha Ninh lãnh đạo địa phận trong kỳ khó khăn:

Trong suốt thời gian Đức cha Santos Ubierna Ninh lãnh đạo giáo phận, đất nước luôn ở trong tình trạng chiến tranh, Giáo phận Thái Bình cũng lâm cảnh đau thương của kháng chiến chống Nhật, chống Pháp và cả chống đói. Vì thế, Đức Cha chỉ có thể duy trì các cơ sở và giữ vững tinh thần đức tin cho cộng đoàn dân Chúa trong giáo phận qua các hội đoàn đã có sẵn. Bản thân Đức Cha cũng đau yếu, từ khi ngài mới bắt đầu sứ vụ truyền giáo tại Bắc Việt.

Năm 1945, địa phận Thái Bình đã phải trải qua nhiều sự gian nan: Nhật đảo chính Pháp, mà đỉnh điểm là nạn đói Ất Dậu bao trùm toàn tỉnh Thái Bình và Hưng Yên, khiến nhiều đồng bào lương giáo lâm vào cảnh chết đói. Trước tình hình đó, một số giáo xứ như Duyên Lãng, Thân Thượng… đã nấu cháo cứu đói, nhà thiên thần An Lập đón nhận 15000 em trên tổng 30000 em mồ côi được thâu nhận trong địa phận. Tòa Giám mục, Chủng viện cũng không ít lần bị trưng dụng làm doanh trại của quân Nhật, quân Pháp, quân Tưởng, và cả quân đội Việt Minh. Đến khi Cách Mạng Tháng 8 thành công, trước tình hình hiện tại và mong muốn của hàng giáo sĩ bản quốc, các cha thừa sai đã nhượng lại các vị trí chủ chốt trong giáo phận cho các cha người Việt. Cụ thể, ngày 05/10/1945, tại Tòa Giám mục Thái Bình, các cha thừa sai Tây Ban Nha đã xin từ nhiệm các chức vụ chính yếu trong địa phận, để nhường lại cho các cha bản quốc, theo thứ tự sau:

Dựa theo lời kể gia đình của người viết, năm 1945, khi nạn đói Ất Dậu xảy ra, cụ Trợ Tiên (tức ông cố Đaminh Nguyễn Kiến) ở họ Bặt Mới xứ Thân Thượng, đã mở kho thóc nấu cháo cứu đói đồng bào trong xã Thân Thượng. Năm 1954, cụ cùng gia đình di cư vào Nam, và định cư tại giáo xứ Hợp An Xóm Mới, địa phận Saigon. Cụ vốn gốc họ Lê, nhưng khi di cư vào Nam thì cụ cùng gia đình đổi sang họ Nguyễn, riêng người con gái đã đi tu Dòng Đaminh Thánh Tâm hãy còn giữ họ gốc. Về phần giáo xứ Duyên Lãng, người viết đã được nghe kể bởi các cụ quê gốc Duyên Lãng di cư vào Nam và hiện còn ở xứ Lễ Trang, giáo phận Phú Cường.

  • Cha Bartôlômêô Nguyễn Quang Ân, chánh xứ Thân Thượng, sẽ làm cha chính địa phận, thay cha chính Eustaquio Garcia Khiết O.P. sẽ nghỉ hưu. Cha Bartôlômêô là nghĩa tử của Đức Cha Casado.
  • Cha Đaminh Trịnh Đức Luyện và cha Đaminh Vũ Đức Triêm sẽ lần lượt làm cha Giám đốc và Phó Giám đốc Tiểu Chủng viện Mỹ Đức thay cha Francisco \urdo Trinh O.P. và cha Eugenio Gonzalez Lâm O.P. sẽ về Tòa Giám mục. Các chủng sinh được gọi tựu trường vào tháng 11.
  • Cha Phêrô Nguyễn Quang Minh (sau này là cha Minh Đăng C.R.M.) sẽ là chánh xứ chánh tòa Thái Bình thay cha Faustino Rengel Lễ O.P. sẽ về Khoái Đồng.
  • Cha Đaminh Đinh Đức Trụ sẽ là giám đốc Trường thầy giảng Hưng Yên thay cha Santiago Nuñez Hạnh O.P. sẽ về coi sóc Nhà Thiên thần Hưng Yên.

Như vậy, năm 1945, nhiệm sở của các cha thừa sai Dòng Đaminh tại Thái Bình như sau: cha Bernando Llobera Yên, cha Antonio Fernandez Xuyên, cha Martin Alonso Vượng và cha Đaminh Đỗ Ngọc Bích ở Ngọc Đồng, cha Separio Gil Khiêm và Santiago

Nuñez Hạnh ở Hưng Yên, cha Heraclio Aragon Đức ở Võng Phan, cha Teodoro Conde Thập ở Cao Xá, cha Dominicano Alvarez Cao ở Quỳnh Lang, Đức Cha Santos Ubierna Ninh, cha Francisco \urdo Trinh và cha Eugenio Gonzalez Lâm ở Tòa Giám mục Thái Bình, cha Antonio Silva An ở Cát Đàm, cha Jose Sedano Thái, cha Juan Rodriguez Khoan và cha Gioan Baotixita Trần Mục Đích ở Cao Mộc và cha Faustino Rengel Lễ ở Khoái Đồng.

Đến tháng 09/1946, hai cha \urdo Trinh O.P và cha Nuñez Hạnh O.P. được Đức Cha gọi về Chủng viện Mỹ Đức và được tái bổ nhiệm làm Giám đốc và Phó Giám dốc Tiểu Chủng viện Mỹ Đức.

Cũng trong thời gian này, vào đêm mồng 06 rạng sáng mồng 07/12/1946, toàn thể cha giáo và chủng sinh của Đại Chủng viện Thánh Albertô và Đệ tử viện Saint Thomas Nam Định được lệnh rời khỏi tu viện. Trước tình hình đó, Đức Cha đã cho Đại Chủng viện về tá túc tại Chủng viện Mỹ Đức, và Đệ Tử viện Saint Thomas về tá túc tại Tu viện Cát Đàm. Các Đại Chủng sinh thuộc ba giáo phận Hải Phòng, Bắc Ninh và Lạng Sơn được bản quyền gọi về giáo phận, riêng các Đại Chủng sinh thuộc Địa phận Thái Bình được Đức Cha kêu gọi về Chủng viện Mỹ Đức học tiếp chương trình.

Thánh lễ truyền chức linh mục ngày 04.06.1953 tại Nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình do Đức Cha Santos Ubierna NinhO.P. chủ sự.
Ảnh: Lm. Trần Minh Tân.
Thánh lễ truyền chức linh mục ngày 04.06.1953 tại Nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình do Đức Cha Santos Ubierna Ninh O.P. chủ sự. Ảnh: Lm. Trần Minh Tân.

Thế là từ đây, tại tiểu chủng viện Mỹ Đức, các thầy thần học, triết lý cùng sinh hoạt bên cạnh các chú latinh tuy lớn tuổi mà đơn sơ; mà quả họ là những đứa con út của gia đình chủng viện lúc ấy, bởi vì ba lớp tràng thử đã được chuyển sang học tại trường thầy giảng Hưng Yên để nhường nhà cho các đàn anh. Tại Hưng Yên, nhà trường được điều hành bởi cha giám đốc Giuse Nguyễn Hữu Vọng và cha phó giám đốc Thomas Trần Lê Vinh.

Đầu năm 1950, Đại Chủng viện Thánh Albertô và Đệ tử viện Thánh Thomas đã có thể về lại Nam Định. Chủng viện vì thế thừa rộng để dung nạp cả sáu lớp latinh tràng thử. Tuy nhiên lớp sáu vẫn phải về Hưng Yên. Đây là một hy sinh lớn lao do Tòa Giám mục ấn định với mục đích duy trì quyền tư hữu ngôi nhà ba tầng cao đẹp đã xây cất dành cho việc đào tạo các Thầy giảng, vốn đã bị quân đội Pháp chiếm đóng làm đồn binh.

Đến năm 1951, cha Nuñez Hạnh được bổ nhiệm làm Giám đốc Tiểu Chủng viện thay cha \urdo Trinh lên Nam Định. Vào thời kỳ này, tại thị xã Thái Bình có một trường Trung học Tư thục Đệ Nhất Cấp của Địa phận Thái Bình là Trường Trương Vĩnh Ký, khai giảng từ niên khóa 1951, với cha Gioan Baotixita Trần Chấn Chỉnh, chánh xứ Thái Bình làm giám đốc. Nhân đó, chủng viện đã bắt đầu giảng dạy các môn văn hóa như toán, lý hóa, việt văn, Anh văn, Sử địa… để thi tú tài và mời các giáo sư ở Trường Trung học Trương Vĩnh Ký Thái Bình về dạy. Năm 1954, trường này di cư vào Nam và định cư tại Phan Rang, cho đến khi thuộc bản quyền địa phận Nha Trang vào năm 1963.

Các chủng sinh địa phận Thái BìnhHàng ngồi: Đinh An Khang, Vũ Phụng Thiên, Lương Hoàng Kim, Nguyễn Trinh Đức, Đinh Bình Định. Hàng đứng: Mai Chí Thành, Bùi Tuần, Nguyễn Quang Thản, Nguyễn Duy Nhật, Trần Thái Hiến.
Ảnh: Lm. Trần Thái Hiến.
Các chủng sinh địa phận Thái Bình Hàng ngồi: Đinh An Khang, Vũ Phụng Thiên, Lương Hoàng Kim, Nguyễn Trinh Đức, Đinh Bình Định. Hàng đứng: Mai Chí Thành, Bùi Tuần, Nguyễn Quang Thản, Nguyễn Duy Nhật, Trần Thái Hiến. Ảnh: Lm. Trần Thái Hiến.

Những sự bổn đạo phải trải qua trong kỳ chiến loạn cùng sự yên ủi trong kỳ ấy

Trong thời kỳ chiến tranh ác liệt, cả giáo phận chìm vào trong bom đạn, khói lửa và đã có nhiều người đã phải ngã xuống. Ngoài cha chính Thái đã kể ở trên, địa phận Thái Bình cũng đã có những linh mục đã tử nạn trong thời chiến tranh: cha Vincentê Nguyễn Thái, chánh xứ Giáo Nghĩa, tử nạn ngày 08/04/1952, cha Giuse Phạm Kim Bảng, chánh xứ Tần Nhẫn, tử nạn ngày 14/05/1952, cha Đaminh Mai Đức Tín, chánh xứ Phương Xá, tử nạn ngày 01/05/1952, cha Giuse Phạm Đức Ngự, chánh xứ Gia Lạc, tử nạn ngày 25/08/1953. Lại có các cha đã bị biệt tích như cha Đaminh Trần Quang Hưng O.P. (biệt tích từ năm 1948) và cha Đaminh Vũ Đức Luật, chánh xứ Cao Mại (biệt tích từ năm 1952). Chưa kể một số cha bị truy lùng, bị giam cầm, song đã thoát nạn. Nhà thờ, nhà xứ bị đánh phá, chiếm đóng, nhiều giáo dân thiệt mạng. Trong số đó, phải kể đến biến cố “Cao Mại đau thương” vào ngày 02/01/1950 khiến 180 người, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em, thiệt mạng, cùng với ngôi nhà thờ bị đốt cháy.

Trong khi đó, các ruộng lúa Nhà Chung, vốn là nguồn huê lợi của Nhà Chung, Chủng viện, Nhà Thiên thần và các cơ sở bác ái xã hội của địa phận, đã bị chiếm mất. Chiến tranh cũng khiến việc đi lại trong địa phận ngày càng khó khăn. Theo lời cha tràng Nuñez Hạnh, trong năm 1953, có hơn 30 trên 50 xứ trong địa phận thuộc quyền kiểm soát của Việt Minh. Trong số các tiểu chủng sinh theo học 1 lớp tràng thử và 5 lớp chương trình phổ thông, nhiều em đến từ vùng kháng chiến của Việt Minh. Vì lo rằng các em sẽ khó có thể quay lại chủng viện, nên Đức Cha lệnh rằng mỗi kỳ nghỉ hè, các em ấy, hoặc theo cha nghĩa phụ đến vùng tề (vì vùng kháng chiến không bảo đảm an toàn, do liên tục bị tấn công) hoặc phải ở lại chủng viện, chứ không cho về nhà quê nữa.

Cha chính Bernando Llobera Yên O.P, chánh xứ Ngọc Đồng, ban phép lành Thánh Thể nhân dịp Thánh du Đức Mẹ Fatima tại giáo xứ Ngọc Đồng năm 1950.
Cha chính Bernando Llobera Yên O.P, chánh xứ Ngọc Đồng, ban phép lành Thánh Thể nhân dịp Thánh du Đức Mẹ Fatima tại giáo xứ Ngọc Đồng năm 1950.

Trước tình hình chiến tranh bi đát ấy, Trái Tim Đức Mẹ Fatima như ngọn hải đăng soi sáng cho giáo phận. Các phong trào cổ vũ lòng sùng kính Trái Tim Đức Mẹ Fatima trong giáo phận được nở rộ: như phong trào Đền Tạ Trái Tim Đức Mẹ của cha Minh Đăng, phong trào Tôn Nữ Vương Gia Đình và Liên Gia Đền Tạ của cha Trinh Cát, đặc biệt là phong trào Tận Hiến

Chúa Giêsu và Mẹ Maria của cha Việt Anh, mà sau này phát triển thành Tu hội Nhập thể – Tận hiến – Truyền giáo (ICM). Nhiều nơi đã dâng giáo xứ, giáo họ cho Trái Tim Đức Mẹ, làm giờ đền tạ, cung nghinh Đức Mẹ quanh xứ quanh làng. Đến bây giờ, kể cả những người con Thái Bình di cư, không ai mà không quen đọc các kinh Tôn Nữ Vương Đức Mẹ, Kinh Đền Tạ Đức Mẹ trong những buổi kinh nguyện trong gia đình. Chính họ cũng đã xác quyết rằng: chính nhờ Trái Tim Đức Mẹ mà họ mới còn sống qua cơn binh lửa cho đến bây giờ.

Để cổ võ cho lòng đạo đức bình dân, từ những năm 1950, các cha Thái Bình như Trinh Cát, Phúc Dân, Hoàng Kim… đã thành lập Mẫu Tâm Văn Đoàn để những văn thi sĩ để sáng tác các tác phẩm cổ võ lòng sùng kính Đức Mẹ.

Các thành viên đầu tiên của phong trào Tận hiến của cha Việt Anh, sau phát triển thành Tu hội ICM.
Các thành viên đầu tiên của phong trào Tận hiến của cha Việt Anh, sau phát triển thành Tu hội ICM.

Ngoài ra, một sự an ủi rất lớn cho giáo phận: ngày 29/04/1951, Đức Thánh Cha Piô XII đã cử hành nghi thức tuyên phong Á Thánh cho Đức Cha Jose Maria

Sanjurjo An O.P., Đức Cha Melchor Garcia Sampedro Xuyên O.P. và 23 anh hùng Tử đạo Bắc Việt. Trong số đó, giáo phận Thái Bình hân hoan có 7 đấng giáo hữu quê hương Thái Bình – Hưng Yên. Đức Cha Santos Ubierna Ninh O.P. đã thay mặt địa phận đến tham dự đại lễ quan trọng này. Cũng trong dịp này, ngài đã yết kiến Đức Thánh Cha Piô XII và trình bày về hiện tình địa phận.

Đại diện Dòng Đaminh và Giáo dân Việt Nam yết kiến Đức Thánh Cha Piô XII nhân dịp phong Á Thánh 1951.
Đại diện Dòng Đaminh và Giáo dân Việt Nam yết kiến Đức Thánh Cha Piô XII nhân dịp phong Á Thánh 1951.

 

Khung cảnh Thái Bình sau chiến tranh. Xa xa là chủng viện Mỹ Đức và nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình.
Khung cảnh Thái Bình sau chiến tranh. Xa xa là chủng viện Mỹ Đức và nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình.
Sắc lệnh của Đức Cha Santos Ubierna Ninh O.P. ban phép cho họ Phú Đồng về xứ Thanh Châu nhận Rất Thánh Đức Mẹ Fatima làm quan thầy, ngày 31/07/1952.
Sắc lệnh của Đức Cha Santos Ubierna Ninh O.P. ban phép cho họ Phú Đồng về xứ Thanh Châu nhận Rất Thánh Đức Mẹ Fatima làm quan thầy, ngày 31/07/1952.

 

Đức Cha Ninh đi Nam cùng qua đời tại đó

Chân dung Đức Cha Santos Ubierna Ninh 1955
Chân dung Đức Cha Santos Ubierna Ninh 1955

 

Sau 9 năm binh đao khói lửa, ngày 07/05/1954, quân đội Việt Minh đã đánh bại quân Pháp tại Điện Biên Phủ, khởi đầu cho một hiệp ước chấm dứt chiến tranh. Trước tình hình đó, một số giáo xứ đã rục rịch chuẩn bị khăn gói di cư vào Nam, ngay trước khi Hiệp định Genève được ký kết. Bản thân Đức Cha Santos Ubierna Ninh O.P. không muốn đi, song ngài đã nhận được giấy từ Cao ủy Pháp: yêu cầu Đức Cha rời khỏi Thái Bình trong vòng 24 giờ. Vậy, ngày 30/06/1954 (là ngày quân đội Việt Minh tiếp quản thị xã Thái Bình). Đức Cha Santos Ubierna Ninh O.P., hai cha Juan Rodriguez Khoan O.P. và Heraclio Aragon Đức O.P. cùng một số linh mục đã lên máy bay vào Saigon trước. Trước khi đi, Đức Cha đã giao quyền nhiếp chính giáo phận cho cha Đaminh Đinh Đức Trụ, chánh xứ Nguyệt Lãng.

Vừa mới chân ướt chân ráo vào Nam, được sự giới thiệu của các quý dì dòng Saint Paul trong Viện Dưỡng lão Thị Nghè, ngài đã đến Thị Nghè và mua một căn biệt thự, số 95 Nguyễn Văn Lạc, của một gia đình người Pháp chuẩn bị về nước, mà sau này trở thành Trụ sở Thái Bình Miền Nam.

Tiếp đến, ngài ưu tiên tìm kiếm địa điểm mới để di chuyển các chủng sinh vào Nam. Nhờ sự thân quen với Đức Cha Marcel Piquet Lợi MEP, giám mục địa phận Qui Nhơn (sau là giám mục tiên khởi địa phận Nha Trang), Đức Cha đã cho Địa phận mượn Nhà xứ Tấn Tài, Phan Rang làm Tiểu Chủng viện Thái Bình di cư. Vậy, ngày 17/10/1954, Đức Cha đã đón 95 chủng sinh và 33 đệ tử Dòng Đaminh đến cư ngụ tại Chủng viện nơi đất mới và khai giảng vào ngày 04/11 năm ấy. Ngài cũng lo liệu cho hơn 400 nữ tu Nhà phước và hơn 80000 giáo dân di cư vào Nam nơi ăn chốn ở, và những điểm định cư ổn định.

Thế nhưng, vào cuối tháng 03/1955, đang khi tháp tùng Đức Hồng Y Gilroy, Tổng Giám mục Sydney, đi thăm các trại định cư, thì ngài cảm thấy mình không khỏe, sau đó khi nhập viện tại Bệnh viện St. Paul Saigon, ngài phát hiện ra mình bị bệnh bạch cầu giai đoạn cuối. Đang khi trên giường bệnh, ngài hằng nhớ đến những đoàn con cái còn ở ngoài Thái Bình, và ao ước muốn được trở về trước ngày 29/04/1955 (là ngày hạn chót di chuyển giữa hai miền), thế nhưng Chúa đã muốn gọi ngài về vào ngày 15/04/1 955, hưởng thọ 47 tuổi, với 25 năm linh mục, 13 năm giám mục. Thi hài ngài được an táng tại Lăng Cha Cả, sau đó được đưa về chôn táng trong lòng Nhà thờ Ba Chuông, rồi đến năm 1992 thì đưa về Tu viện Martinô Hố Nai.

Đã từ lâu, giáo phận Thái Bình mong muốn có một ngày sẽ đưa hài cốt ngài về lại giáo phận. Mãi đến ngày 31/10/2018, Tỉnh dòng đã trao hài cốt của Đức Cha Santos Ubierna Ninh cho Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ, giám mục Thái Bình, để đem về giáo phận mà ngài đã từng phục vụ. Lúc 18h30, ngày 02/11/2018, hài cốt Đức cha đã tới Nhà thờ Chính tòa Thái Bình. Hài cốt được Đức Cha đã được an vị trong lòng Nhà thờ Chính Tòa Thái Bình vào ngày 04/11/2018.

HÌNH ẢNH ĐÓN HÀI CỐT ĐỨC CHA SANTOS URBIENA NINH VỀ GIÁO PHẬN

HÌNH ẢNH ĐÓN HÀI CỐT ĐỨC CHA SANTOS URBIENA NINH VỀ GIÁO PHẬN
HÌNH ẢNH ĐÓN HÀI CỐT ĐỨC CHA SANTOS URBIENA NINH VỀ GIÁO PHẬN
Rước hài cốt Đức Cha Santos Ubierna Ninh O.P. vào Nhà thờ Chính Tòa Thái Bình.
Rước hài cốt Đức Cha Santos Ubierna Ninh O.P. vào Nhà thờ Chính Tòa Thái Bình.
Mộ phần Đức Cha Santos Ubierna Ninh O.P. tại nhà thờ Chính Tòa Thái Bình.
Mộ phần Đức Cha Santos Ubierna Ninh O.P. tại nhà thờ Chính Tòa Thái Bình.

NHỮNG TRẬN BÃO GIÔNG (1954-1990)

Tiểu sử Đức Cha Đaminh Đinh Đức Trụ

Đức Cha Đaminh Đinh Đức Trụ
Đức Cha Đaminh Đinh Đức Trụ

Đức Cha Đaminh Đinh Đức Trụ sinh ngày 15/10/1909 tại Phú Nhai, Bùi Chu. Năm 16 tuổi, ngài tu học tại trường Latinh Ninh Cường. Năm 1931, ngài học triết học tại Đại Chủng viện miền Thánh Albertô Nam Định. Sau đó, ngài đi giúp các nhà giáo ở xứ Đồng Quan một năm, rồi quay lại Đại Chủng viện học thần học. Ngày 23.05.1938, Đức Cha Juan Casado Thuận O.P. đã phong chức linh mục cho ngài cùng 3 thầy khác tại nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình. Sau đó, ngài được bổ nhiệm làm phó xứ Vĩnh Phúc (1938-1939), phó xứ Thái Bình (1939-1940), phó xứ Cao Xá (1940-1942), phó xứ Lực Điền (1942-1943), chánh xứ Võng Phan (1943-1945). Năm 1945, ngài được bổ nhiệm làm Giám đốc Trường Thầy giảng Hưng Yên. Đến năm 1948, ngài được bổ nhiệm làm giáo sư Tiểu Chủng viện Mỹ Đức. Năm 1950, ngài được bổ nhiệm làm chánh xứ Nguyệt Lãng. Ngày 30/06/1954, ngài được Đức Cha Santos Ubierna Ninh O.P. bổ nhiệm làm Tổng quản Địa phận.

Những việc Cha nhiếp chánh Đaminh đã làm trong những năm đầu

Vào thời điểm ngài chấp chánh Địa phận, hàng linh mục chỉ còn 13 người, phần lớn đã có tuổi, 20 thầy thầy giảng và 26 nữ tu Đaminh sống rải rác, nên một trong những ưu tư hàng đầu của của ngài là làm thế nào để bổ sung thêm nhân sự cho Giáo phận bị thiếu nhiều do hậu quả cuộc di cư 1954 để lại. Do vậy, đầu năm 1956, cha Đaminh Đinh Đức Trụ khai giảng trường Mỹ Đức, tiếp nhận tất cả các con em trong Giáo phận về học, và đặt cha Giuse Trần Trọng Hậu làm giám đốc. Niên khoá đầu tiên 1956-1957, con số học sinh đã lên tới 350. Sang niên khóa sau, cha nhiếp chính đã gửi 10 chú lên học tại Tiểu Chủng viện Gioan Hà Nội.

Cuối năm ấy, nhân sự khó khăn chưa lên cao, Đức Cha đã mở cuộc kinh lý các xứ họ, có nhiều giai thoại rất cảm động về sự hy sinh của Đức Cha, như việc ngài phải cải trang thành một lão nông, một người đạp xích lô… để đến với bổn đạo. Hai hội đoàn chính yếu của địa phận là Dòng Ba Đaminh và hội Mân Côi được thêm phần củng cố, phong trào Đền Tạ Trái Tim Chúa Giêsu vào Thứ Sáu đầu tháng và Đền Tạ Trái Tim Đức Mẹ vào Thứ Bảy đầu tháng đã đưa nhiều người lầm lạc quay trở về với Chúa.

Cha Đaminh được tấn phong Giám mục, cùng các sự khó khăn mà Người phải chịu khi làm giám mục:

Ngày 05/03/1960, Tòa Thánh bổ nhiệm cha nhiếp chính Đaminh Đinh Đức Trụ làm Giám mục hiệu tòa Catapas, Đại diện Tông tòa Thái Bình. Vì trong giáo tỉnh Miền Bắc khi ấy không còn Đức Giám mục nào ngoài Đức Cha Giuse Maria Trịnh Như Khuê tại Hà Nội, nên ngày 25/03/1960, cha chính Đaminh giả làm người đạp xích lô tới Tòa Giám mục Hà Nội để được Đức cha Giuse Trịnh Như Khuê truyền chức giám mục tại nhà nguyện của Tòa Giám mục Hà Nội. Sau khi về giáo phận, ngài đã phong chức giám mục cho cha nhiếp chính Bùi Chu Giuse Maria Phạm Năng Tĩnh, cũng được bổ nhiệm làm Đại diện Tông Tòa Bùi Chu cùng ngày với Đức Cha Đaminh tại Tòa Giám mục Thái Bình trong đêm tối tĩnh mịch vào ngày 10/11/1960.

Đến ngày 24/11/1960, Đức Thánh Cha Gioan XXIII thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Đức Cha Đaminh trở thành Giám mục Chính tòa Giáo phận Thái Bình.

Cũng trong thời điểm này, giáo phận đang bước vào những thử thách gian truân. Khi mới nhận chức Tổng quản, khi ấy Người còn ở Nguyệt Lãng, một thế lực nhân danh Công giáo đã vào chiếm Tòa Giám mục, lấy rượu lễ Tây Ban Nha cất trong hầm ra bán, khiến Đức Cha phải đấu tranh để đòi lại. Kể từ đó, Đức Cha, khi còn là Tổng quản, đã chuyển về ở tại Tòa Giám mục, vừa thi hành sứ vụ lãnh đạo địa phận, vừa để giữ nhà cho địa phận nữa. Chính vì thế, Người bị mời lên Ủy ban nhiều lần, vì họ cho rằng hộ khẩu cha không phải ở đây mà ở Nguyệt Lãng, song cha vẫn kiên quyết ở Tòa Giám mục chứ chẳng đi đâu hết. Mà cũng do sự ngăn trở, nên khi làm giám mục, Người cũng không thể đi kinh lý toàn giáo phận cho đúng Giáo luật được.

Chủng viện Mỹ Đức từ năm 1963 phải giải tán theo lệnh của chính quyền, để lại một ngôi nhà bề thế nhưng trống vắng chủng sinh. Các chủng sinh được gửi đi học tại Hà Nội cũng phải về lại giáo phận từ năm 1960. Tu viện Cát Đàm và Trường Thầy giảng Hưng Yên bị mượn làm trường học. Những nhà thờ, nhà chung, trường học tại các giáo xứ, giáo họ đã di cư vào Nam gần hết thì bị chiếm dụng làm trường học, nhà văn hóa, hay thậm chí là lẫm lúa, chuồng bò, nhà kho, hoặc để cho dân lương vào ở.

Đức Cha Đaminh trả lời phỏng vấn với nhà báo trong đợt Nhà Chung và Nhà thờ Chánh Tòa bị ném bom.
Đức Cha Đaminh trả lời phỏng vấn với nhà báo trong đợt Nhà Chung và Nhà thờ Chánh Tòa bị ném bom.

Đặc biệt, trong chiến tranh, Miền Bắc luôn phải hứng chịu các cuộc oanh tạc bằng máy bay của quân đội Mỹ, khiến nhiều nhà thờ, nhà xứ bị tàn phá, giáo dân bị thiệt mạng. Trong đó, phải kể đến hai lần đánh bom vào Nhà thờ Chánh Tòa vào ngày 19/08 và 12/10/1967 khiến nhà thờ có phần hư hại, song không bị phá hủy hoàn toàn.

Nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình bị hứng chịu bom Mỹ.
Nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình bị hứng chịu bom Mỹ.

Đời sống đạo địa phận Thái Bình trong kỳ bão giông

Vào thời điểm này, nhiệm sở của các cha còn ở tại giáo phận như sau: cha chính Giuse Vũ Xuân Hy ở Xuân Hòa, cha Gioan Baotixita Trịnh Xuân Thu ở Phục Lễ, cha Thomas Vũ Nguyên Sùng ở Thượng Phúc, cha Vincentê Nguyễn Lịch Thiệp ở Trung Đồng, cha Đaminh Trần Chân Quý ở Bồng Tiên, cha Gioan Baotixita Trần Du Đồng ở Bác Trạch, cha Vincentê Nguyễn Khắc Hiếu ở An Lập, cha Giuse Trần Trọng Hậu ở Thân Thượng kiêm Giám đốc Chủng viện, cha Thomas Trần Công Tính ở Ngọc Đồng, cha Thomas Nguyễn Tình ở Hưng Yên. Mỗi cha phải kiêm nhiệm 10-20 xứ trở lên, lại không phải lúc nào cũng được đi làm phúc hết cả các xứ họ ấy, do ngăn trở bởi địa lý và con người… Song các đấng ấy vẫn cố gắng duy trì việc ban bí tích cho bổn đạo trong Mùa Chay, Mùa Vọng và Lễ Quan thầy.

Về các xứ họ, dù gặp nhiều khó khăn, vẫn có những con người kiên cường bám trụ để giữ lại gia sản Hội Thánh, nhờ đó có những nơi, dầu rằng đã di cư gần hết, xem ra chẳng còn ai, nhưng nhà thờ vẫn còn đó mà âm ỉ Đức Tin, chờ ngày trổ sinh. Lại phải kể đến một số anh chị em lương dân, dù có sự ngăn trở nhiều phía, nhưng anh chị em ấy vì lòng lương thiện mà trông coi nhà cửa cho Hội Thánh, điển hình như tại nhà thờ Xá Thị, khi nhà thờ bị cháy thì mọi người đã đi Nam, may mắn là có anh chị em lương dân đến dập lửa, nếu không thì nhà thờ chẳng còn gì.

Số giáo dân còn lại, dù ít ỏi, nhưng vẫn duy trì việc đọc kinh lần hạt trong nhà thờ, lại thêm các kinh sách cùng các bài hát mà Đức Cha và các đấng trong địa phận soạn thêm. Hàng tuần, các ông trùm tại các xứ họ đạp xe lên Tòa Giám mục, để rước Mình Thánh Chúa do Đức Cha truyền phép, về cho xứ họ mình để chầu và cho giáo dân chịu lễ. Trong những ngày lễ trọng như lễ quan thầy Thánh Tâm Chúa Giêsu hay Đức Mẹ Vô Nhiễm, thì giáo dân các xứ họ trong địa phận nối đuôi nhau đạp xe hay đi bộ trẩy lên nhà thờ Chánh Tòa xem lễ. Cũng trong mấy dịp lễ trọng này, Đức Cha cũng tranh thủ ban bí tích thêm sức cho hàng trăm em cùng làm phép hôn phối cho mấy chục đôi nữa.

Công nghiệp mà Đức Cha Đaminh đã lèo lái địa phận trong kỳ bão giông

Ngày 16/07/1960, Đức Cha đã phong chức linh mục cho bốn thầy giảng đã được hàm thụ trước đó: Giuse Vũ Văn Vân, Gioakim Trần Trọng Uyên, Giuse Maria Đinh Bỉnh và Giuse Bùi Văn Cẩm. Các cha kể trên sau này sẽ tham gia việc đào tạo chủng sinh cho giáo phận, cũng như là nhân tố quan trọng để duy trì sự hiện diện của giáo phận tại Chủng viện Mỹ Đức, tránh việc bị chiếm do không có người ở.

Về các chủng sinh, Đức Cha quyết định chọn một số thầy để học hàm thụ. Các thầy này sẽ ở nhà quê hoặc giúp việc cho Tòa Giám mục, rồi hàng tuần lên gặp Đức Cha để ngài khảo bài. Đức Cha cũng viết đơn xin Tòa Thánh cho phép phong chức linh mục dưới tuổi (vì linh mục phải có tuổi tác tối thiểu là 25 tuổi). Vì thế, ngày 19/03/1965, ngài phong chức linh mục cho hai thầy Giuse Nguyễn Thành Hiến và Đaminh Trịnh Đức Tính; ngày 31/05/1965, thầy Giêrônimô Nguyễn Phúc Hạnh và Đaminh Phạm Quang Trung; ngày 29/01/1968, thầy Thomas Trần Trung Hà và Phêrô Chanel Nguyễn Kiêm Toàn, ngày 11/07/1970, thầy Augustinô Vũ Văn Hương và Vincentê Phạm Văn Tuyên; ngày 16/07/1971, thầy Gioan Baotixita Phạm Ngọc Châu; ngày 13/08/1972, phong chức cho thầy Giêrônimô Nguyễn Văn Đạo, Đaminh Đặng Văn Gia, Phêrô Trần Khắc Thi và Giuse Vũ Công Phước.

Đức Cha Đaminh Đinh Đức Trụ phát biểu trong một Thánh lễ Đại triều do Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn chủ sự.
Đức Cha Đaminh Đinh Đức Trụ phát biểu trong một Thánh lễ Đại triều do Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn chủ sự.

Đặc biệt, năm 1972, Chủng viện Mỹ Đức được phép mở cửa, 15 thầy đã được tựu trường. Đức Cha đặt cha Giuse Maria Đinh Bỉnh làm giám đốc Chủng viện. Mặc dù trải qua muôn vàn khó khăn do chiến tranh, thiếu giáo sư, thiếu phương tiện. Ngày 16/10/1977, tại Nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình, Đức Cha đã phong chức linh mục cho 9 thầy đã học xong chương trình, trong sự phấn khởi của Cộng đoàn Dân Chúa Thái Bình. Ngày 18/04/1978, các tân linh mục đã hoàn thành xong thủ tục để đến nhận các nhiệm sở: cha Giuse Nguyễn Quang Phục coi xứ Đồng Quan, cha Phanxicô Xaviê Trần Văn Học làm phó Bác Trạch, cha Antôn Bùi Xuân Huyên coi xứ Thanh Châu, cha Gioakim Nguyễn Duy Thiện coi xứ Quỳnh Lang, cha Vincentê Vũ Văn Duyệt coi xứ Nguyệt Lãng, cha Giuse Trần Xuân Chiêu coi xứ Cao Mộc, cha Giuse Nguyễn Tri Chúc coi xứ Xuân Hòa, cha Giuse Mai Trần Huynh coi xứ Thái Bình, cha Giuse Mai Trần Nga coi xứ Hữu Vy. Số linh mục trong giáo phận nay lên tới 25 vị.

Cuối đời, vì tuổi cao sức yếu, nên Đức Cha đã xin có một Giám mục phó để kế vị. Vậy Tòa Thánh đã bổ nhiệm cha Giuse Maria Đinh Bỉnh, làm giám mục phó giáo phận Thái Bình, khiến Đức Cha nhẹ gánh đôi phần.

Đức Cha Đaminh Đinh Đức Trụ bên cạnh Đức Hồng Y Tổng Giám mục Hà Nội Giuse Maria Trịnh Như Khuê và Đức Cha phó Giuse Maria Trịnh Văn Căn trong ngày mừng Đức Tổng Giám mục được nhận tước Hồng Y.
Đức Cha Đaminh Đinh Đức Trụ bên cạnh Đức Hồng Y Tổng Giám mục Hà Nội Giuse Maria Trịnh Như Khuê và Đức Cha phó Giuse Maria Trịnh Văn Căn trong ngày mừng Đức Tổng Giám mục được nhận tước Hồng Y.

Ngày 07/06/1982, Đức Cha Đaminh, sau một thời gian bệnh tật, đã được Chúa gọi về sau một cơn cao huyết áp. Thánh lễ an táng đã được cử hành vào ngày 11/06/1982, sau đó ngài được an táng tại nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình.

Thi hài Đức Cha Đaminh Maria Đinh Đức Trụ.
Thi hài Đức Cha Đaminh Maria Đinh Đức Trụ.
Linh cữu của Đức Cha Đaminh được đặt trên cỗ kiệu của giáo xứ Thân Thượng.
Linh cữu của Đức Cha Đaminh được đặt trên cỗ kiệu của giáo xứ Thân Thượng.

Tiểu sử Đức Cha Giuse Maria Đinh Bỉnh

Đức Cha Giuse Maria Đinh Bỉnh
Đức Cha Giuse Maria Đinh Bỉnh

Đức Cha Giuse Maria Đinh Bỉnh sinh ngày 02/05/1922 tại Phú Nhai, Bùi Chu. Năm lên 8 tuổi, ngài vào nhà chung Tích Tín giúp lễ và theo học với cha cố Giuse Phạm Kim Bảng. Học xong tiểu học, ngài nhập tiểu chủng viện Ninh Cường (Bùi Chu) rồi Mỹ Ðức (Thái Bình) và mãn khoá tại đây.

Từ năm 1942, ngài dạy trường Kẻ giảng Hưng Yên của giáo phận Thái Bình cho đến năm 1945 khi được phân công đi hỗ trợ mục vụ các giáo xứ Đồng Quan, Bác Trạch và Thanh Châu cho đến năm 1956. Ngài học Thần học và Lý đoán tại Đại chủng viện Thánh Alberto Nam Định.

Khi Đức cha Santos Ubierna Ninh (Giám mục Thái Bình 1942-1955) di cư vào Nam năm 1554, cha Đaminh Đinh Đức Trụ được cử làm Giám quản giáo phận. Năm 1956, cha nhiếp chính mời thầy Giuse Đinh Bỉnh về cộng tác tái khôi phục chủng viện Mỹ Đức bị hư hại và ngưng trệ sinh hoạt sau chiến tranh. Thầy Đinh Bỉnh vừa là Hiệu trưởng vừa là giáo viên chính của chủng viện. Tuy bận rộn với công tác ở chủng viện Mỹ Đức, thầy Đinh Bỉnh vẫn tranh thủ thời gian nghiên cứu học tập các môn thần học để chuẩn bị nhận chức linh mục.

Vì địa phận thiếu linh mục trầm trọng, nên ngày 16/07/1960 (lễ Đức Mẹ núi Camêlô), Đức cha Đaminh Đinh Đức Trụ đã truyền chức linh mục cho thầy cùng với 3 thầy giảng khác.

Từ niên khóa 1960-1961 tới khi Tiểu chủng viện Mỹ Đức đóng cửa, ngài là giám đốc Tiểu chủng viện này. Từ năm 1972-1977, ngài là giám đốc Đại chủng viện Mỹ Đức và kiêm nhiệm coi xứ Sa Cát, Phương Xá, Cao Mộc, Lai Ổn, Tràng Lũ, Duyên Tục và Thuần Tuý.

Ngày 30/10/1979, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm ngài làm Giám mục phó giáo phận Thái Bình.

Ngày 08/12/1979, ngài được tấn phong Giám mục tại Nhà thờ Chánh tòa Thái Bình do Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn chủ phong, hai Đức cha Đaminh Đinh Đức Trụ – Giám mục Thái Bình và Giuse Maria Nguyễn Tùng Cương – Giám mục Hải Phòng phụ phong.

Đức Cha J.M. Đinh Bình (ngoài cùng góc trái) cùng hàng giám mục Việt Nam yết kiến Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.
Đức Cha J.M. Đinh Bình (ngoài cùng góc trái) cùng hàng giám mục Việt Nam yết kiến Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.

Công nghiệp mà Đức Cha Giuse Maria đã làm

Nhận thức rõ nhiệm vụ khó khăn của một chủ chăn, vị tân Giám mục đã muốn phó thác cuộc đời và giáo phận trong tay Đức Mẹ, nên ngài đã chọn khẩu hiệu “Ecce Mater tua: Này là Mẹ con.” Trong thời gian làm Giám mục, Đức cha Giuse Đinh Bỉnh xuất ngoại một lần vào 1980, thay mặt Đức cha Đaminh Đinh Đức Trụ sang Roma đi “ad Limina” viếng mộ hai Thánh Phêrô – Phaolô như luật định của Toà Thánh. Ngài đi chuyến ngày 09/09/1980 là chuyến thứ hai do Đức Tổng Phaolô Nguyễn Văn Bình, Tổng Giám mục Saigon dẫn đầu (chuyến thứ nhất là ngày 1//06/1980 do Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn và Đức Tổng Philipphê Nguyễn Kim Điền dẫn đầu).

Đức Cha Giuse Maria Đinh Bỉnh (thứ 2 từ phải sang) cùng hàng giám mục Việt Nam đồng tế tại Rôma.
Đức Cha Giuse Maria Đinh Bỉnh (thứ 2 từ phải sang) cùng hàng giám mục Việt Nam đồng tế tại Rôma.

Nối tiếp công việc của vị tiền nhiệm, Đức cha Giuse Đinh Bỉnh luôn ưu tiên cho việc đào tạo linh mục, đồng thời, ngài tận tâm tận lực chăm sóc cho đời sống đức tin của giáo phận.

Ngài đã truyền chức cách âm thầm cho cha Gioan Baotixita Nguyễn Sơn Hải, cha Giuse Nguyễn Đình Bốn vào năm 1981, gửi bốn thầy Thomas Trần Trung Hà, Đaminh Trịnh Đức Tính (đã chịu chức trước đó), Giuse Nguyễn Văn Ban, Vincentê Mai Thành Sơn lên học chương trình bổ túc tại Đại Chủng viện Thánh Giuse Hà Nội rồi phong chức linh mục cho thầy Giuse Nguyễn Văn Ban và thầy Vincentê Mai Thành Sơn vào năm 1988, sau đó bổ nhiệm hai cha mới đi coi sóc giáo miền Hưng Yên: cha Vincentê Sơn coi xứ Cao Xá, cha Giuse Ban coi xứ Sài Quất. Tiếp đó, ngài hợp thức hóa cho cha Thomas Trần Trung Hà và cha Đaminh Trịnh Đức Tính vào ngày 17/02/1989. Sau đó, Đức Cha bổ nhiệm cha Thomas Hà coi xứ Giáo Nghĩa, cha Đaminh Tính coi xứ Trung Đồng.

Ngoài ra, Đức Cha Giuse Maria Đinh Bỉnh lo liệu gửi 4 thầy Đaminh Đặng Văn Cầu, Gioan Baotixita Đỗ Bá Dương, Phêrô Nguyễn Đình Tân và Phanxicô Assisi Nguyễn Tiến Tám vào học chương trình chính quy của Đại Chủng viện Thánh Giuse Hà Nội, thuộc khóa 3 (1989-1995).

Đức Cha Giuse Maria Đinh Bỉnh (giữa) với cha Giuse Trần Xuân Chiêu (trái) và ông Vincentê Trần Xuân Roanh, quê họ Nam Trạch xứ Bác Trạch, Giám đốc Công ty Lương thực SATICO Đồng Nai, Tổng Giám đốc Ngân hàng Đại Á.Ảnh: ông Trần Xuân Roanh.
Đức Cha Giuse Maria Đinh Bỉnh (giữa) với cha Giuse Trần Xuân Chiêu (trái) và ông Vincentê Trần Xuân Roanh, quê họ Nam Trạch xứ Bác Trạch, Giám đốc Công ty Lương thực SATICO Đồng Nai, Tổng Giám đốc Ngân hàng Đại Á. Ảnh: ông Trần Xuân Roanh.

Vào thời điểm này, một số linh mục, tu sĩ và giáo dân gốc Thái Bình đã kết nối được với địa phận mẹ và đã có chuyến viếng thăm về quê cũ. Nhân dịp đó, Đức Cha cũng nhờ các đấng bậc ấy giúp coi sóc các chú đang theo đuổi ơn gọi đi học tại Miền Nam, chờ dịp thuận tiện sẽ về lại giáo phận.

Đang mải miết lo cho Giáo phận, vào lúc 04h00 ngày 14/03/1989, ngài đã an nghỉ trong Chúa sau cơn nhồi máu cơ tim, hưởng thọ 67 tuổi, với 29 năm linh mục và 10 năm Giám mục. Thi hài ngài được an táng trong lòng nhà thờ Chính Tòa Thái Bình.

Trong thời gian trống tòa, Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn làm giám quản tông tòa giáo phận. Đức Hồng Y tuy không làm giám quản lâu, nhưng ngài đã khích lệ, nâng đỡ cộng đoàn dân Chúa Thái Bình, cổ võ phong trào đạo đức bình dân, trong đó có việc dâng hoa kính Đức Mẹ vào tháng Năm. Đến khi Đức Hồng Y Giuse Maria đột ngột qua đời, thì theo Giáo luật, Đức Cha Phaolô Bùi Chu Tạo, Giám mục Phát Diệm, là niên trưởng trong giáo tỉnh Hà Nội, lên làm giám quản các địa phận mà Đức Hồng Y đang coi sóc.

Mộ phần Đức Cha Đaminh Đinh Đức Trụ và Đức Cha Giuse Maria Đinh Bỉnh tại nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình.
Mộ phần Đức Cha Đaminh Đinh Đức Trụ và Đức Cha Giuse Maria Đinh Bỉnh tại nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình.

 

Các linh mục Thái Bình tĩnh tâm tại Tòa Giám mục ngày 06, 07, 08/12/1983.
Các linh mục Thái Bình tĩnh tâm tại Tòa Giám mục ngày 06, 07, 08/12/1983.

 

Phía sau bức ảnh có chú thích để chúng ta biết được tên cha nào trong ảnh và linh tông của vị ấy.
Phía sau bức ảnh có chú thích để chúng ta biết được tên cha nào trong ảnh và linh tông của vị ấy.

TRỜI ĐÊM BỪNG SÁNG (1990-2009)

Tiểu sử Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang

Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang
Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang

Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang sinh ngày 08/01/1932 tại Lại Yên, Hoài Đức, Hà Đông. Từ nhỏ, ngài học tiểu học tại trường Gendreau, và được tuyển vào đội ngũ các em giúp lễ tại nhà thờ lớn Hà Nội. Sau đó, cậu Sang được gửi vào học tại

Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên 5 năm, dưới sự bảo trợ của cha cố Đaminh Đinh Thành Chung. Mãn tiểu chủng viện, ngài tu học tại Đại Chủng viện Xuân Bích Liễu Giai, Hà Nội. Theo Chủng viện di cư vào Nam năm 1954, nhưng khi được tin Đức Cha Hà Nội Giuse

Maria Trịnh Như Khuê kêu gọi các đại chủng sinh về lại Hà Nội, chỉ một mình thầy Sang đã tình nguyện xin về. Về lại địa phận Hà Nội, thầy vừa tự học và làm công nhân nhà in Thánh Têrêsa ở Hà Nội 2 năm, rồi học nốt chương trình thần học tại Chủng viện Gioan Hà Nội với 6 giáo sư và chỉ có 1 chủng sinh là thầy Sang. Ngày 18/4/1958, ngài được thụ phong linh mục do Đức cha Giuse Trịnh Như Khuê tại Nhà thờ Lớn Hà Nội. Sau khi thụ phong linh mục, ngài làm phó xứ Hàm Long và làm giáo sư Tiểu chủng viện Thánh Gioan Hà Nội. Năm 1964, ngài làm Chánh Văn phòng Toà Tổng giám mục Hà Nội. Đến năm 1973, khi Đại Chủng viện Hà Nội được mở cửa trở lại, ngài được cử làm giáo sư. Đến năm 1979, ngài được cử làm cha xứ

giao-xu-cat-noi

Nhà thờ Chính toà Hà Nội, kiêm Tổng quản miền Hà Nội. Ngày 24/3/1981, ngài được Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm ngài làm Giám mục Phụ tá Tổng giáo phận Hà Nội, hiệu toà Sarda. Đến ngày

22/4/1981, ngài đã chịu chức giám mục tại Nhà thờ Lớn Hà Nội, do Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn chủ phong, Đức Tổng Phaolô Nguyễn Văn Bình và Đức Cha Giuse Maria Nguyễn Tùng Cương phụ phong. Sau khi chịu chức giám mục, ngài cũng được bổ nhiệm làm Tổng Đại diện TGP. Hà Nội kiêm Giám đốc Đại Chủng viện Thánh Giuse Hà Nội. Sau chuyến đi Ad Limina 1990, ngày 03/12/1990, ngài được Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm ngài làm Giám mục Giáo phận Thái Bình.

Ngày 05/02/1991, ngài về nhận Giáo phận Thái Bình. Khi vừa đặt chân lên đất Thái Bình, tại bến phà Tân Đệ, Đức Cha đã “quì xuống hôn lên mảnh đất thân yêu” mà ngài được gắn bó kết duyên. Hình ảnh đầy cảm động ấy luôn được lưu giữ trong tim người tín hữu Thái Bình.

Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang hôn đất Thái Bình khi đặt chân lên bến phà Tân Đệ.
Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang hôn đất Thái Bình khi đặt chân lên bến phà Tân Đệ.

 

Lễ nhậm chức giám mục giáo phận Thái Bình ngày 05.02.1991.
Lễ nhậm chức giám mục giáo phận Thái Bình ngày 05.02.1991.

Công nghiệp Đức Cha Phanxicô đã làm trong 5 năm đầu giám mục địa phận Thái Bình

Là một vị giám mục uyên bác, giàu kinh nghiệm, lại từng phục vụ tại một giáo phận thành thị, nên khi về giáo phận Thái Bình, bằng tài trí khôn ngoan, Đức Cha không theo đường lối giữ đạo cứng nhắc, nhưng đã có những cuộc đối thoại cởi mở, thân tình song có lập trường rõ ràng với chính quyền địa phương. Những điều ấy không những dần dà xóa bỏ định kiến về đạo, mà chính quyền từ xã đến tỉnh càng thêm tôn trọng và tạo điều kiện cho sinh hoạt tôn giáo. Thật đúng là “Caritas in Veritas” (Chân lý trong Tình yêu). Trong 5 năm đầu giám mục giáo phận Thái Bình, Đức Cha Phanxicô Xaviê đã phát động hai chương trình lớn cho giáo phận: một là chương trình học hỏi và truyền bá Phúc Âm, hai là chương trình bác ái Xóa đói Giảm nghèo. Hai chương trình này đã gặt hái được thành công nhất định trong giáo phận, càng làm gia tăng mối tình hiệp thông trong cộng đoàn Dân Chúa và đoàn kết trong toàn dân trong tỉnh Thái Bình và tỉnh Hưng Yên. Ngoài ra, dưới thời Ngài, giáo phận cũng năng làm việc bác ái với những người nghèo khó, người khuyết tật, người phong cùi, trong đó phải kể đến các việc khoang giếng nước sạch, xây trạm xá, nhà tình nghĩa, lập quỹ tín dụng cho người nghèo…

Đức Cha thăm cha cố Vincentê Nguyễn Khắc Hiếu.
Đức Cha thăm cha cố Vincentê Nguyễn Khắc Hiếu.

 

Đức Cha giảng cấm phòng cho các cha trong địa phận.
Đức Cha giảng cấm phòng cho các cha trong địa phận.

 

Đức Cha trao nhà tình nghĩa cho đồng bào nghèo.
Đức Cha trao nhà tình nghĩa cho đồng bào nghèo.

 

Đức Cha thăm viếng giáo dân.
Đức Cha thăm viếng giáo dân.

 

Ngay khi về giáo phận, ngài đã lo liệu việc hợp thức hóa cho 8 linh mục chưa được làm mục vụ bằng việc cho đi học chương trình hàm thụ tại Đại Chủng viện Thánh Giuse Hà Nội từ đầu Mùa Chay 1992. Đến ngày 02/02/1994, Đức Cha đã trao bài sai cho các cha ấy như sau: cha Giuse Nguyễn Thành Hiến coi xứ Cao Mại, cha Đaminh Phạm Quang Trung coi xứ Bồng Tiên, cha Giêrônimô Nguyễn Phúc Hạnh coi xứ Nguyệt Lãng, cha Phêrô Trần Khắc Thi coi xứ Bạch Long, cha Đaminh Đặng Văn Gia coi xứ Cao Mộc, cha Giuse Nguyễn Đình Bốn coi xứ Tràng Lũ, cha Giuse Trần Đức Hạnh coi xứ Thuần Túy, và cha Gioan Baotixita Nguyễn Sơn Hải làm chánh văn phòng Tòa Giám mục.

Ngày 03/12/1994, nhân lễ kính Thánh Phanxicô Xaviê, bổn mạng Đức Cha, ngài đã phong chức linh mục cho hai thầy sáu là Thomas Đoàn Xuân Thỏa và Phêrô Trần Đình Bốn. Hai thầy đã theo đuổi ơn gọi từ thời Đức Cha Đaminh Đinh Đức Trụ và vừa hoàn thành xong khóa tu nghiệp tại Đại Chủng viện Hà Nội. Sau khi chịu chức, năm 1996, cha Thomas Thỏa được bổ nhiệm làm chánh xứ Ngọc Đồng, cha Phêrô Bốn được bổ nhiệm làm chánh xứ Nguyệt Lãng.

Ngoài ra, từ năm 1995, Đức Cha đã gửi một số cha đi du học: cha Giuse Trần Xuân Chiêu du học tại Phi Luật Tân, cha Giuse Vũ Văn Duyệt du học tại Pháp, nhưng vì bị bệnh nên sau một năm phải về lại giáo phận, nên năm 1996, Đức Cha đã cử cha Giêrônimô Nguyễn Phúc Hạnh và cha Gioan Baotixita Nguyễn Sơn Hải được cử đi du học Paris.

Đức Cha còn chia địa phận lại thành 5 giáo hạt theo huyện: hạt Kiến Xương, hạt Thái Thụy, hạt Đông Hưng, hạt Tiền Hải, hạt Hưng Yên. Phát động toàn giáo phận chung tay xây dựng lại ngôi Thánh đường Cao Mại, đại trùng tu Thánh đường Ngọc Đồng, và cổ võ các xứ họ trùng tu hoặc xây mới nhiều nhà thờ trong địa phận. Người cũng tổ chức các dịp cấm phòng hằng năm cho linh mục đoàn địa phận.

Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập Giáo phận, Đức Cha đã xin Tòa Thánh cho mở Năm Thánh toàn xá, với những Thánh lễ long trọng và đối thoại tâm tình với mục tử. Cũng trong dịp khai mạc Năm Thánh, ngày 09/03/1996, Đức Cha Phanxicô Xaviê đã phong chức linh mục cho 4 thầy thuộc giáo phận vừa hoàn thành khóa 3 Đại Chủng viện Hà Nội là Phanxicô Assisi Nguyễn Tiến Tám, Phêrô Nguyễn Đình Tân, Gioan Baotixita Đỗ Bá Dương và Đaminh Đặng Văn Cầu. Vài tháng sau, các cha này đã được bổ nhiệm như sau: cha Phanxicô Assisi coi xứ Thân Thượng, cha Phêrô coi xứ Thanh Minh, cha Gioan Baotixita coi xứ Đan Chàng và cha Đaminh làm thư ký cho Đức Cha. Đến năm 2000, Đức Cha cử cha Phêrô đi du học Rôma, cha Đaminh đi du học Paris.

Đức Cha và bốn tân chức, từ trái sang: Đaminh Đặng Văn Cầu, Phanxicô Assisi Nguyễn Tiến Tám, Phêrô Nguyễn Đình Tân, Gioan Baotixita Đỗ Bá Dương.
Đức Cha và bốn tân chức, từ trái sang: Đaminh Đặng Văn Cầu, Phanxicô Assisi Nguyễn Tiến Tám, Phêrô Nguyễn Đình Tân, Gioan Baotixita Đỗ Bá Dương.

Đức Cha Phanxicô Xaviê lo liệu nhân sự cho địa phận Thái Bình

Về nhân sự, Đức Cha đã đặt cha Giuse Bùi Văn Cẩm làm Tổng Đại diện (1992-2000), rồi đến cha Giêrônimô Nguyễn Phúc Hạnh (2000-2008), cha Đaminh Đặng Văn Cầu (2008-2009), thiết lập 9 ban trực thuộc các Ủy ban Hội Đồng Giám mục: Giáo sĩ, Tu sĩ, Giáo dân, Phụng tự, Thánh Nhạc, Loan Báo Tin Mừng, Văn hóa, Giáo lý Đức Tin, Bác ái Xã hội, và 3 ban trực thuộc giáo phận: Ban Giới trẻ, Ban Hội đồng Mục vụ, Đặc trách Huynh đoàn Giáo dân Đaminh.

Sau khóa 3, Đức Cha cũng tiếp tục gửi một số anh em đi học tại Đại Chủng viện Thánh Giuse Hà Nội, và các anh em này được phong chức linh mục vào các đợt: ngày 04/12/2001, ngày 03/12/2003, ngày 25/11/2005 (tại Hà Nội do Đức Hồng Y Sepe) và ngày 04/08/2007. Đặc biệt, ngày 22/02/2006, Đức Cha đã phong chức linh mục cho sáu thầy vừa học xong khóa bổ túc tại Đại Chủng viện Sao Biển Nha Trang là Augustinô Phạm Văn Mùi, Thomas Phạm Vấn, Phêrô Vêrôna Trần Duy Điển, Augustinô Nguyễn Văn Đề, Đaminh Nguyễn Văn Đạm và Giuse Lê Văn Phòng. Các tân chức này đã theo đuổi ơn gọi từ rất lâu, đã phải trải qua nhiều sóng gió thế gian, nay tất cả đều 50 tuổi trở lên, thậm chí cha Augustinô Mùi đã 70 tuổi khi bước lên Bàn Thánh.

Ngoài ra, Đức Cha cũng liên hệ được với các cha gốc Thái Bình Miền Nam, với đại diện là các cha Luca Nguyễn Thanh Bình (quê Công Bồi), cha Giuse Vũ Minh Nghiệp (quê Hạ Lễ), cha quản lý trụ sở Giuse Maria Đinh Bình Định… để nhờ gửi một số chú có chí hướng đi tu vào Nam học văn hóa và rèn luyện tu đức, để có dịp thuận tiện sẽ trở về địa phận mà nhập học tại Đại Chủng viện Hà Nội.

Thành lập Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội

Với tư cách là chủ tịch Ủy ban Giáo dân của Hội Đồng Giám mục Việt Nam, Đức Cha đã thay mặt HĐGM tham dự Đại hội Giới trẻ thế giới, nhờ đó, ngài đã có sáng kiến thành lập Đại hội Giới trẻ cấp Giáo tỉnh. Vậy, dù gặp những khó khăn trở ngại ban đầu, Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội đã được tổ chức lần đầu tiên tại Thái Bình vào ngày 14 và 15/12/2002. Có một điểm lưu ý về Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội lần đầu tiên này: vì đây là đại hội đầu tiên, lại vấp phải những trở ngại như đã kể trong hồi ký của ngài, nên lần tổ chức đầu tiên này, Đức Cha phải lấy tên là “Đại hội Giới trẻ Giáo phận Thái Bình” với quy mô cấp giáo tỉnh Hà Nội. Các bài cám ơn của cha Giêrônimô Nguyễn Phúc Hạnh trong ngày khai mạc và cha Thomas Trần Trung Hà trong ngày bế mạc cũng chỉ nói là “Đại hội Giới trẻ Giáo phận Thái Bình”. Danh xưng “Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội” lần đầu tiên xuất hiện là tại Đại hội lần 2 tổ chức tại giáo phận Phát Diệm. Đến nay, Đại hội Giới Trẻ Giáo Tỉnh Hà Nội đã tổ chức được 21 lần, qua rộng khắp 10 giáo phận trong giáo tỉnh, trong đó giáo phận Thái Bình có thêm hai lần tổ chức Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh lần thứ XI vào ngày 27 và 28/11/2013 và lần thứ XXI vào ngày 18 và 19/11/2025.

Cải tổ nhà phước Đaminh trong địa phận thành Hội dòng nữ Đaminh Thái Bình

Ngoài hàng linh mục và giáo dân, Đức Cha cũng lo liệu cho các chị em nhà phước Đaminh. Đây là những chị em tự nguyện sống vâng phục, khiết tịnh, khó nghèo, cùng ở trong một cộng đoàn gọi là nhà phước, lo các việc dạy giáo lý đồng nhi, rửa tội trẻ nguy tử, chuộc trẻ mồ côi, giúp kẻ liệt lào, làm thuốc dệt vải… nhưng các chị em này không có lời khấn theo Giáo luật, nên chưa được nhìn nhận là tu sĩ theo Giáo luật. Đời sống tu trì này đã hiện diện trong địa phận từ thời còn các thừa sai Đaminh truyền giáo vào đất Bắc Việt này, trải qua biết bao thăng trầm thời cuộc, nhất là thời kỳ đất nước chia cắt, các chị em đã kiên vững giữ trọn ơn gọi của mình, cũng như đã là cộng sự đắc lực của hàng giáo sĩ trong việc gìn giữ Đức Tin trong giáo phận. Vì thế, Đức Cha muốn hợp thức hóa nhà phước Đaminh thành một hội dòng nữ Đaminh của giáo phận có lời khấn theo giáo luật. Trước khi thành lập, trong giáo phận có 13 nhà phước Đaminh: 11 nhà phước trước năm 1954 là Cát Đàm, Trung Đồng, Ngọc Đồng, Tây Làng, Bồ Ngọc, Nam Trạch, Thân Thượng, Phương Xá, Sa Cát, Viên Tiêu và 2 nhà phước sau 1954 là Thái Bình (1956) và Phục Lễ (1966). Vậy, sau thời gian gửi các chị vào tu học tại Hội dòng Nữ Đaminh Rôsa Lima – Miền Mân Côi và khấn theo giáo luật để làm nòng cốt, cũng như xin Tòa Thánh chuẩn y cho thành lập Hội dòng, thì vào ngày 25/03/2004, Đức Cha Phanxicô Xaviê đã ký sắc lệnh thành lập Hội dòng Nữ Đaminh Thái Bình, tước hiệu Trinh Nữ Vương.

Đức Cha ký sắc lệnh thành lập Hội dòng Nữ Đaminh Thái Bình ngày 25/03/2004.
Đức Cha ký sắc lệnh thành lập Hội dòng Nữ Đaminh Thái Bình ngày 25/03/2004.

Xây nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình mới

Để kỷ niệm 70 năm thành lập giáo phận, Đức Cha Phanxicô Xaviê đã xin Tòa Thánh cho thiết lập Năm Thánh 3 năm (2005-2006-2007).

Thánh lễ kỷ niệm 70 năm giáo phận Thái Bình và Ngân Khánh Giám mục của Đức Cha Phanxicô Xaviê bên công trình Nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình, ngày 22/04/2006.

Thánh lễ kỷ niệm 70 năm giáo phận Thái Bình và Ngân Khánh Giám mục của Đức Cha Phanxicô Xaviê bên công trình Nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình, ngày 22/04/2006.

Vậy trong Năm Thánh này, đã có những sự kiện đánh dấu mốc cho sự hồi sinh và vươn mình của giáo phận.

Sau 100 năm xử dụng, dù đã cố gắng trùng tu nhiều lần, song ngôi nhà thờ Chính Tòa cổ kính đã dần xuống cấp, không còn bảo đảm an toàn khi có Thánh lễ Đại triều. Ngoài ra, để xứng tầm cho một giáo phận lớn, ngôi Thánh đường Chánh Tòa cần phải có đủ sức chứa. Vì thế, việc xây dựng một ngôi Nhà thờ Chánh Tòa mới đã trở nên cần thiết.

Nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình 2003.
Nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình 2003.

Ngày 14/04/2005, việc khởi công xây dựng đã được triển khai. Ngôi Thánh đường mới được xây theo lối kiến trúc tân kỳ gồm hai tháp, với phần lòng nhà thờ dài 69m, rộng 25m, tháp rộng 10m, cao 48m do Kiến trúc sư Giuse Trần Đức Long thiết kế và giám sát công trình. Để xứng tầm với vị thế nhà thờ mẹ giáo phận, Đức Cha cùng với cha xứ nhà thờ Chánh Tòa đã làm đơn lên các cấp chính quyền để xin lấy lại những khu đất của nhà thờ đã bị các hộ dân lấn chiếm.

Phối cảnh nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình mới.
Phối cảnh nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình mới.

Sau hai năm xây dựng, ngày 13/10/2007, nhân dịp Hội đồng Giám mục Việt Nam vừa họp xong kỳ họp Thường niên tại Hà Nội, Đức Cha Phanxicô Xaviê đã long trọng cử hành Thánh lễ Cung hiến Thánh Đường Chánh Tòa Thái Bình với sự đồng tế của tất cả các Giám mục trong Hội Đồng Giám mục Việt Nam và đông đảo cộng đoàn dân Chúa trong và ngoài giáo phận.

Đến nay, ngôi Thánh đường đã trở nên một công trình kiến trúc biểu tượng của thành phố Thái Bình.

Thánh đường Chánh Tòa Thái Bình mới.
Thánh đường Chánh Tòa Thái Bình mới.
Nghi thức khánh thành Thánh đường Chánh Tòa Thái Bình ngày 13/10/2007.
Nghi thức khánh thành Thánh đường Chánh Tòa Thái Bình ngày 13/10/2007.
Các giám mục sau Thánh lễ Cung hiến nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình.
Các giám mục sau Thánh lễ Cung hiến nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình.

 

Thiết lập Đền Thánh Tử đạo Đông Phú và các giáo xứ mới

Đền Thánh Tử đạo Đông Phú
Đền Thánh Tử đạo Đông Phú

Ngày 06/06/2006, nhân kỷ niệm sinh nhật thiên quốc của hai Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng và Phêrô Đinh Văn Thuần, để cổ võ lòng sùng kính các Thánh Tử đạo quê hương đồng Thái Bình, Đức Cha Phanxicô Xaviê đã ban sắc nâng nhà thờ giáo họ Đông Phú lên thành Đền Thánh Kính Các Thánh Tử đạo Giáo phận Thái Bình, và đặt cha Vincentê Đỗ Cao Thăng, chánh xứ Trung Đồng, kiêm nhiệm cha quản đốc tiên khởi.

Từ nhiều năm, Đức Cha Phanxicô Xaviê cùng cộng đoàn dân Chúa trong giáo phận, nhất là các giáo dân tại các giáo họ, luôn mong muốn nâng một số giáo họ lên giáo xứ, nhằm thăng tiến đời sống đạo tại các cộng đoàn ấy. Kể từ sau khi Đức Cha Đaminh Đinh Đức Trụ ban sắc thành lập giáo xứ Ngô Xá vào năm 1958, không một giáo họ nào được nâng lên giáo xứ, trong khi đó các giáo họ ngày càng gia tăng số giáo dân. Vì thế, sau nhiều lần cầu nguyện, bàn bạc với quý cha hữu trách, cùng làm đơn xin chính quyền các cấp, ngày 03/12/2006, nhân dịp Lễ Thánh Phanxicô Xaviê, bổn mạng Đức Cha Giáo phận, Đức Cha đã chính thức ban sắc thành lập 20 tân giáo xứ (ký ngày 02/12/2006) là các xứ An Lạc, Cam Châu, Châu Nhai, Đức Ninh, Hải Linh, Hoàng Xá, Hợp Châu, Nam Biên, Nam Thái, Phú Giáo, Phương Bồ, Tân Hưng, Tân Mỹ, Thái Nội, Thiên Lộc, Thuận Nghiệp, Thục Thiện, Thụy Lôi, Truyền Tin và Văn Lăng. Sau đó, ngày 04/08/2007, Đức Cha cũng ban sắc thành lập thêm 6 tân giáo xứ nữa là Đông Phú, An Châu, Quan Cao, Tân Châu, Tây Làng và Trại Gạo. Đây là đợt lên xứ đầu tiên kể từ sau thời kỳ khó khăn. Tiếp sau đó, Đức Cha đã nâng thêm 5 họ lên giáo xứ là Danh Giáo, Đông Khê, Hữu Tiệm, Hàm Tải và Vinh Sơn (Nam Trạch) … nâng tổng số giáo xứ trong thời Đức Cha Phanxicô Xaviê là 95 giáo xứ. Ngoài ra, Đức Cha cũng đã thiết lập thêm giáo hạt Thành Phố Thái Bình, tách ra từ giáo hạt Kiến Xương.

Đức Cha Phanxicô Xaviê ban sắc lập xứ ngày 03/12/2006.
Đức Cha Phanxicô Xaviê ban sắc lập xứ ngày 03/12/2006.

Thành lập Đại Chủng viện Thánh Tâm Mỹ Đức Thái Bình

Năm 2006, nhận thấy số linh mục trong địa phận vẫn còn thiếu, chưa đủ đáp ứng được số tín hữu đông đảo và cánh đồng truyền giáo trong địa phận, trong khi trong giáo phận vẫn còn những anh em “nam tu” là những anh em đã theo đuổi ơn gọi từ rất lâu, nay đã trung hoặc cao niên, cha Thomas Đoàn Xuân Thỏa đại diện anh em đã làm đơn thỉnh nguyện lên Đức Cha, xin cho một số anh em linh mục giáo phận, vừa mới đi du học về, mở lớp thường huấn thần học cho các anh em để có thể sinh ích cho Hội Thánh địa phương. Vì thế, sau khi cân nhắc và bàn thảo kỹ lưỡng, vì lợi ích chung của giáo phận, Đức Cha đã làm đơn đề nghị chính quyền tỉnh Thái Bình cho mở lớp “đào tạo linh mục ngắn hạn” và vào ngày 30/05/2008, lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, Đức Cha nhận quyết định cho phép mở lớp đào tạo và đồng ý trao trả lại Chủng viện Mỹ Đức và Tu viện Đaminh Cát Đàm về cho giáo phận. Chính vì thế, Đức Cha đã quyết định đặt tên cho chủng viện mới là Đại Chủng Viện Thánh Tâm.

Vậy ngày 20/08/2008, khóa I của Đại Chủng viện Thánh Tâm Mỹ Đức đã được khai giảng với con số 29 thầy lớn tuổi. Các thầy, phần lớn từ 36 đến 68 tuổi, đã được sự hướng dẫn của các cha giáo gồm Đức Cha Phanxicô Xaviê là giám đốc Chủng viện, cha Đaminh Đặng Văn Cầu là phó giám đốc, cùng các cha Hiêrônimô Nguyễn Phúc Hạnh, Giuse Trần Xuân Chiêu, Gioan Baotixita Nguyến Sơn Hải, Phêrô Nguyễn Đình Tân và cha Thomas Đoàn Xuân Thỏa là quản lý. Trong số các thầy trong khóa này, ngoài thầy Đaminh Nguyễn Hoàn (sinh năm 1940 tại Đông Thành) đã được Chúa gọi về ngày 15/08/2014, còn lại thì đã được chịu chức linh mục vào ngày 08/12/2014 và ngày 01/01/2016.

Các thầy khóa I ĐCV Thánh Tâm Mỹ Đức.
Các thầy khóa I ĐCV Thánh Tâm Mỹ Đức.

Những việc đáng kể khác trong thời Đức Cha Phanxicô Xaviê

Ngày 28/10/2006, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã ban tước Đức Ông cho ba linh mục thuộc địa phận Thái Bình: cha Giuse Bùi Văn Cẩm được ban tước Đức Ông tuyên úy danh dự nhà nguyện của Đức Thánh Cha, cha Hierônimô Nguyễn Phúc Hạnh được ban tước Đức Ông giám chức danh dự của giáo triều Rôma, cha Thomas Trần Trung Hà được ban tước Đức Ông tuyên úy danh dự Nhà nguyện của Đức Thánh Cha. Ngày 19/03/2007, ba Tân Đức Ông đã được trao sắc và áo cùng đai tím trước mặt cộng đoàn dân Chúa giáo phận.

Đức Ông Cẩm
Đức Ông Cẩm
Đức Ông Hạnh
Đức Ông Hạnh
Đức Ông Hà
Đức Ông Hà

Về các dòng tu, Đức Cha nhận thấy được sự đa dạng của linh đạo và đặc sủng nơi các dòng tu sẽ làm cho giáo phận ngày càng sống động và thăng tiến. Vì thế, từ những năm 2000 trở đi, nhiều nhà dòng đã được Đức Cha cho phép hoạt động trong giáo phận, trước tiên là các Dòng tu có gốc Địa phận Thái Bình: Dòng Mến Thánh Giá Tân Lập, Dòng Mến Thánh Giá Tân Việt, Tu đoàn Tông đồ Giáo sĩ Nhà Chúa, sau đó là các dòng tu Giáo hoàng và Giáo phận như Dòng Chúa Cứu Thế, Dòng Salesians Don Bosco, Dòng Đồng Công, Dòng Thừa Sai Đức Tin, Dòng Thánh Tâm Huế, Hội Dòng Con Đức Mẹ Mân Côi… Đối với các dòng giáo sĩ nam, Đức Cha đã trao một số xứ họ cho các cha phục vụ trong giai đoạn linh mục triều còn chưa đông đủ, đối với các dòng nữ, Đức Cha đã gửi các chị đến thiết lập các cộng đoàn tại những nơi vùng sâu vùng xa để thắp sáng Đức Tin lên các nơi ấy. Đức Cha cũng đã nhờ một số chị em giúp đỡ các bịnh nhân tại trại phong Văn Môn.

Ngoài ra, còn một khía cạnh về truyền thông mà ít ai đề cập: đó là dưới thời Đức Cha Phanxicô, trang web giáo phận đã được thành lập nhằm mục đích truyền tải thông tin giáo phận tới đại chúng khắp nơi. Năm 2006, trang web của giáo phận đã được kiện toàn, do văn phòng Tòa Giám mục điều hành. Vào thời điểm đó, có các nhân sự sau: ban biên tập gồm các cha Giuse Trần Xuân Chiêu, Đaminh Đặng Văn Cầu, Thomas Đoàn Xuân Thỏa, F.X. Ngô Văn Toan, ban phóng viên gồm các thầy Giuse NguTuân, phóng viên thường trực gồm các anh Gioan Baotixita Nguyễn Văn Chiến, Micae Nguyễn Công Giang, Giuse Saviô Đoàn Quốc Thắng, ban kỹ thuật gồm thầy Giuse Augustinô Hoàng Văn Thụ và anh Đaminh Trịnh Xuân Trịnh. Đến nay, trang web giáo phận đã bốn lần trải qua bốn tên miền: tgmtb.net (2006-2008, 2008-2010), giaophanthaibinh.com (2008), giaophanthaibinh.org (2010-2023) và nay là giaophanthaibinh.net (2023-nay).

Những năm cuối đời của Đức Cha Phanxicô Xaviê:

Ngày 25/07/2009, Toà Thánh chấp thuận cho Đức Cha Phanxicô Xaviê nghỉ hưu, khi 78 tuổi, sau 28 năm làm Giám mục (trong đó 19 năm là Giám mục chính toà giáo phận Thái Bình). Những năm cuối đời, ngài hưu dưỡng tại Toà Giám mục Thái Bình.

Dù đã về hưu, nhưng ngài cũng cố gắng đến giúp mục vụ cho các xứ họ trong địa phận Thái Bình, nhất là ngài hay chủ tế Thánh lễ cao điểm trong tuần chầu lượt.

giao-xu-cat-noi

Đức Cha Phanxicô Xaviê trong áo lễ kỷ niệm Năm Thánh Giáo hội Việt Nam 2010 luôn là hình ảnh quen thuộc trong những buổi đại lễ của giáo phận và giáo xứ.

giao-xu-cat-noi

giao-xu-cat-noi Đức Cha Phanxicô Xaviê với phái đoàn Tòa Thánh thăm công trình nhà chung Thái Bình.

Đức Cha Phanxicô Xaviê trong dịp mừng 10 năm Hội dòng nữ Đaminh Thái Bình.

Ngày 25/04/2015, Đức Cha Phanxicô Xaviê bị tai biến, phải đưa đi cấp cứu, từ đó ngài trở nên yếu dần đi, khi di chuyển phải ngồi xe lăn. Sang năm 2017, sức khỏe của Đức Cha Phanxicô Xaviê trở nặng, cả giáo phận đã sẵn sàng cho điều phải xảy đến.

giao-xu-cat-noi

Đức Tổng Giuse Ngô Quang Kiệt thăm Đức Cha Phanxicô Xaviê đang đau bệnh.

giao-xu-cat-noi

Đức Cha Laurensô Chu Văn Minh thăm Đức Cha Phanxicô Xaviê đang đau bệnh.

giao-xu-cat-noi

Yên tâm về đi… Chưa chết được đâu!” (12/01/2016)

Và vào lúc 19h00 ngày 05/10/2017, Đức Cha Phanxicô Xaviê đã được Chúa gọi về, hưởng thọ 86 tuổi, với 59 năm linh mục và 36 năm Giám mục. Thánh lễ an táng của ngài được cử hành vào ngày 09/10/2017 do Đức Hồng Y Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Tổng Giám mục Hà Nội, chủ tế, cùng đồng tế Đức Tổng Leopoldo Girelli, đại diện Đức Thánh Cha không thường trú tại Việt Nam và đông đảo quý Đức Cha trong Hội đồng Giám mục Việt Nam. Linh cữu ngài được an táng trong lòng nhà thờ chánh tòa Thái Bình, bên cạnh những vị tiền nhiệm.

giao-xu-cat-noi

Thi hài Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang.

giao-xu-cat-noi

Nghi thức tẩn liệm Đức Cha Phanxicô Xaviê.

giao-xu-cat-noi

Các buổi lễ cầu nguyện cho Đức Cha Phanxicô Xaviê.

giao-xu-cat-noi

Thánh lễ an táng Đức Cha Phanxicô Xaviê.

giao-xu-cat-noi

Nghi thức hạ huyệt Đức Cha Phanxicô Xaviê.

giao-xu-cat-noi

Phần mộ Đức Cha Phanxicô Xaviê tại Nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình.

MÙA LÚA DỒI DÀO (2009-NAY)

Tiểu sử Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ S.D.B.

giao-xu-cat-noi Ngày 25/07/2009, cùng việc công bố việc từ chức của Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI cũng bổ nhiệm Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ S.D.B., đang là giám mục phụ tá giáo phận Bùi Chu, làm giám mục giáo phận Thái Bình.

Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ S.D.B. sinh ngày 15/01/1946 tại Trí Bưu, Thạch Hãn, Quảng Trị. Năm 1958, ngài gia nhập Dòng Salesians Don Bosco và đã khấn dòng ngày 15/08/1965. Sau khi học xong trung học, ngài được gửi đi học triết học tại Hồng Kông từ năm 1965-1968, rồi học Thần Học tại Giáo Hoàng học viện Thánh Piô X Ðà Lạt từ năm 1970-1974. Ngày 17/12/1973, ngài

đã thụ phong linh mục tại Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X Đà Lạt.

Sau khi thụ phong linh mục, ngài đã đảm nhiệm các chức vụ khác nhau như sau: cha giáo Nhà Tập của dòng (1976-1979), chánh xứ Xuân Hiệp, TGP Saigon (1979-1991), Bề trên Giám tỉnh (1992-1997), Giám đốc Học viện Thần học của Dòng (1997-2000), Giáo sư Đại Chủng viện Thánh Giuse Hà Nội (2000-2005).

giao-xu-cat-noi

Đức Cha Phêrô khi còn là cha chánh xứ Xuân Hiệp (1984).

giao-xu-cat-noi Ngày 29/11/2005, Ðức Thánh Cha Bênêdictô

XVI đã bổ nhiệm cha Phêrô làm giám mục hiệu tòa Ammaedara, phụ tá giáo phận Bùi Chu. Ðức Hồng Y Crescenzio Sepe, Tổng trưởng Bộ Loan Báo Phúc Âm Cho Các Dân Tộc, đã thông báo

tin vui này vào cuối thánh lễ truyền chức cho 57 tân linh mục tại nhà thờ Chánh Tòa Hà Nội vào sáng ngày hôm ấy. Đến ngày 16/01/2006, ngài đã chịu chức giám mục tại Nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình, do Đức Cha Giuse Hoàng Văn Tiệm chủ phong, Đức Tổng Giuse Ngô Quang Kiệt và Đức Tổng Stêphanô Nguyễn Như Thể phụ phong.

Vậy, ngày 01/09/2009, Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ đã nhậm chức giám mục chánh tòa giáo phận Thái Bình.

giao-xu-cat-noi giao-xu-cat-noi

Đức Cha Phanxicô Xaviê đón Đức Cha Phêrô là tân giám mục giáo phận Thái Bình.

Những việc Đức Cha Phêrô làm trong những năm đầu chấp chánh địa phận Thái Bình

Sau khi nhậm chức giám mục, việc làm đầu tiên của Đức Cha là thăm viếng mục vụ tất cả các xứ họ trong địa phận, từ những giáo xứ kỳ cựu, đông giáo dân đến những giáo họ nhỏ bé, vài chục nhân danh, thậm chí có những giáo họ ở rất xa nơi miền Hưng Yên, nhà thờ đơn sơ, giáo dân tản mác. Hình ảnh vị mục tử nhỏ người nhưng nhanh nhẹn luôn để lại tâm trí trong mỗi tín hữu tại các giáo xứ. Tiếp đến, sau khi thăm mục vụ các xứ họ, từ năm 2014, ngài đã tiến hành cuộc kinh lý các xứ họ trên toàn giáo phận Giáo luật, với mục đích tìm hiểu sâu sắc hơn tình hình từng cộng đoàn dân Chúa trong giáo phận, để đệ trình báo cáo số liệu nhân danh và hiện trạng mỗi xứ họ trong giáo phận cho Đức Thánh Cha trong chuyến Ad Limina. Chuyến kinh lý này khởi đầu từ giáo xứ Lực Điền và Thái Nội vào ngày 07/05/2014 và kết thúc tại giáo xứ Chánh Tòa Thái Bình ngày 25/08/2014.

Để kiện toàn giáo phận có được cơ cấu chặt chẽ, hầu phát huy khả năng của toàn thể cộng đoàn dân Chúa, trong tuần tĩnh tâm linh mục từ ngày 09-14/11/2009, các linh mục trong giáo phận đã nhất trí với Đức Cha cho ra “Chỉ Nam Giáo phận” với những chỉ dẫn mục

vụ cụ thể và thiết thực cho hàng giáo sĩ và giáo dân, áp dụng từ ngày 01/01/2010.

giao-xu-cat-noi

Đức Cha Phêrô chủ sự Thánh lễ cung hiến nhà thờ Thanh Châu 24/03/2010.

giao-xu-cat-noi

Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ kinh lý giáo họ Đồng Vân năm 2014.

Việc thiết lập các tân giáo xứ, tân giáo hạt và tân Đền Thánh:

Khi Đức Cha nhậm chức, giáo phận mới có 95 giáo xứ. Để việc đạo trong các giáo họ thêm thăng tiến, ngài đã xúc tiến việc nâng các giáo họ lên giáo xứ, từ đó sẽ đặt cha xứ cai quản mà lo liệu phần hồn cho giáo dân nơi ấy thường xuyên hơn. Vậy, ngày 26/11/2009, nhân dịp khai mạc Năm Thánh Giáo hội Việt Nam tại Thái Bình, Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ đã ban sắc thành lập 7 giáo xứ mới gồm: Đại Điền, Giáo Lạc, Khúc Mai, Minh Nghĩa, Phương Mai, Thất Sự và Thủ Chính. Ngày 08/12/2014, nhân lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội quan thầy giáo phận, Đức Cha đã ban sắc thành lập 6 giáo xứ mới gồm: Cao Bình, Chấp Trung, Đông A, Kim Châu, Minh Đức và Trung Thành (Trung Đồng Bồng Tiên) và vào ngày 17/10/2020, nhân lễ Khánh Nhật Truyền giáo, Đức Cha đã ban sắc nâng 27 giáo họ lên hàng giáo xứ, gồm: An Thái, Bích Đông, Bơn Làng, Cát Trại, Công Bồi, Đại Hội, Đông Châu, Đồng Vân, Đức Long, Kính Danh, Lạc Đạo, Lãm Khê, Lập Trại, Linh Châu, Lộc Trung, Minh Châu, Phú Lễ, Phương Quan, Quan Khê, Quân Trạch, Song Hai, Thánh Tâm (Trung Thành), Thọ Sở, Thượng Điền, Tống Xuyên, Việt Yên và Vĩnh Trà.

Trong thời Đức Cha Phêrô có sự thay đổi và địa giới các giáo hạt: khi vừa về giáo phận, thể theo lời đề nghị của linh mục đoàn, năm 2010, Đức Cha đã chuyển bốn giáo xứ Bồ Ngọc, Phục Lễ, Tân Mỹ, Quỳnh Lang từ giáo hạt Thái Thụy về nhập giáo hạt Đông Hưng. Ngoài ra, khởi đi từ ưu tư mục tử với địa giới giáo hạt phân bố không đều, có nơi quá nhiều giáo xứ như Tiền Hải, nhưng có nơi rải rác song địa bàn giáo hạt quá rộng lớn như Hưng Yên, vì thế, trong đợt thuyên chuyển linh mục 2014, Đức Cha cũng đã tách giáo hạt Hưng Yên thành giáo hạt Đông Hưng Yên và Tây Hưng Yên, lấy địa giới theo trục đường 39B, cùng tách giáo hạt Tiền Hải thành Bắc Tiền Hải và Nam Tiền Hải, lấy địa giới theo sông Lân, với hạt Bắc Tiền Hải là các xứ có gốc mẹ từ Bác Trạch, hạt Nam Tiền Hải là các xứ có gốc mẹ từ Kẻ Mèn.

Để cổ võ lòng sùng kính tước hiệu Chúa, Đức Mẹ và Các Thánh trong giáo phận, Đức Cha cũng đã thiết lập thêm nhiều Đền Thánh trong giáo phận. Hiện ngoài Đền Thánh Tử đạo Đông Phú đã được thiết lập thời Đức Cha Phanxicô Xaviê, thì giáo phận có thêm 5 đền thánh mới: Đền Thánh Lòng Chúa Thương Xót Bác Trạch (ký ngày 20/04/2014, ban sắc ngày 27/04/2014), Đền Thánh Thánh Tâm Chúa Giêsu Cao Mại (27/06/2014, ban sắc ngày 27/06/2014),

Đền Thánh Tử đạo quê hương Hưng Yên Ngọc Đồng (ký ngày 18/11/2018, ban sắc ngày 22/11/2018), Đền Thánh Giuse Thượng Phúc (ký ngày 15/03/2022, ban sắc ngày 19/03/2022), Đền Thánh Đức Mẹ Thái Bình Cổ Việt (ký ngày 22/05/2022, ban sắc ngày 24/05/2022).

Nhân sự địa phận Thái Bình dưới thời Đức Cha Phêrô

Trong nhiệm kỳ 2010-2014, Đức Cha đã đặt Đức Ông Giêrônimô Nguyễn Phúc Hạnh làm Tổng Đại diện, cha Phanxicô Xaviê Ngô Văn Toan làm quản lý, cha Gioan Baotixita Nguyễn Sơn Hải làm giám đốc chủng viện kiêm chưởng ấn, sáu cha quản hạt: cha Giuse Trần Xuân Chiêu chánh xứ Bồng Tiên làm quản hạt Thành Phố, cha Phanxicô Assisi Nguyễn Tiến Tám chánh xứ Thân Thượng làm quản hạt Kiến Xương, cha Đaminh Phạm Quang Trung chánh xứ Mỹ Đình làm quản hạt Đông Hưng, cha Augustinô Phạm Quang Tường chánh xứ Trung Đồng làm quản hạt Tiền Hải, cha Luca Nguyễn Văn Định chánh xứ Thượng Phúc làm quản hạt Thái Thụy và cha Gioan Baotixita Đỗ Bá Dương chánh xứ Đan Chàng làm quản hạt Hưng Yên. Cùng trợ giúp với Đức Cha trong việc điều hành giáo phận có bốn Hội đồng: Tư vấn (do

cha Giuse Trần Xuân Chiêu làm chủ tịch), Linh mục (do Đức Ông Giêrônimô Nguyễn Phúc Hạnh làm chủ tịch), Kinh tế (Cha F.X. Ngô Văn Toan làm chủ tịch), Mục vụ (cha Đaminh Đặng Văn Cầu làm chủ tịch), và 5 khối ban ngành: ơn gọi, giáo lý, phụng tự, đoàn thể, phục vụ.

giao-xu-cat-noi

Linh mục đoàn giáo phận Thái Bình năm 2019.

Khi Đức Cha về giáo phận, việc thuyên chuyển linh mục trở nên thường xuyên hơn. Việc thuyên chuyển này giúp gia tăng lợi ích các linh hồn nơi các cộng đoàn, và cũng gia tăng nơi quý cha nữa, vì như thế, cộng đoàn Dân Chúa được thổi vào luồng gió mới, còn quý cha cũng được phát huy tối đa kinh nghiệm mục vụ của mình. Ngày 01/01/2010, Đức Cha đã thực hiện

cuộc thuyên chuyển đầu tiên nhằm phù hợp với chức vụ mà các cha được trạch cử: Đức Ông Giêrônimô Nguyễn Phúc Hạnh vì là Tổng Đại diện nên từ Trung Đồng được bổ nhiệm làm chánh xứ Chánh Tòa, cha Giuse Trần Xuân Chiêu từ Chánh Tòa được bổ nhiệm làm chánh xứ Bồng Tiên kiêm quản hạt Thành phố, cha Augustinô Phạm Quang Tường từ Thanh Minh làm chánh xứ Trung Đồng kiêm quản hạt Tiền Hải, cha Gioan Baotixita Nguyễn Sơn Hải từ Đồng Quan về làm giám đốc Đại Chủng viện Mỹ Đức, và cha Giuse Đinh Xuân Ngọc từ Bồng Tiên về làm chánh xứ Đồng Quan.

Đáng kể hơn cả là cuộc thuyên chuyển năm 2014, với toàn thể linh mục đoàn giáo phận nhận quyết định thuyên chuyển và bổ nhiệm. Sáng ngày 10/09/2014, tại Đại Chủng viện Thánh Tâm Mỹ Đức, toàn thể linh mục đoàn giáo phận Thái Bình đã cùng Đức Cha Giáo phận dâng lễ tạ ơn Thiên Chúa và nhận bài sai cùng lúc. Ở ngoài nhà nguyện, các giáo dân khắp giáo phận đã đứng ngoài chờ sẵn để đón chào các vị mục tử mới của giáo xứ mình.

giao-xu-cat-noi Trong đợt thuyên chuyển này, Đức Cha cũng bổ nhiệm giáo vụ mới cho giáo phận. Ngài đặt cha Phanxicô Assisi Nguyễn Tiến Tám làm Tổng Đại diện, chánh xứ Chánh Tòa quản hạt Thành phố, cha Phanxicô Xaviê Ngô Văn Toan chánh xứ Sa Cát kiêm quản lý, cha J.B.

Nguyễn Sơn Hải làm giám đốc ĐCV, cha Gioan Chu Văn Yên làm chánh văn phòng, cùng đặt tám cha quản hạt mới: cha Giuse Phạm Văn Thiện chánh xứ Ngọc Đồng quản hạt Tây Hưng Yên, cha Đaminh Đặng Văn Cầu chánh xứ Cao Xá làm quản hạt Đông Hưng Yên, cha Luca Nguyễn Văn Định chánh xứ An Lập làm quản hạt Đông Hưng, cha Vincentê Vũ Văn Hướng chánh xứ Thân Thượng làm quản hạt Kiến Xương, cha Gioan Baotixita Đỗ Bá Dương chánh xứ Thượng Phúc làm quản hạt Thái Thụy, Đức Ông Thomas Trần Trung Hà chánh xứ Bác Trạch làm quản hạt Bắc Tiền Hải, và cha Đaminh Nguyễn Văn Thao chánh xứ Trung Đồng làm quản hạt Nam Tiền Hải, cùng bổ nhiệm các cha trưởng khối

ban ngành và thành viên các ủy ban trong Hội đồng Giám mục Việt Nam.

giao-xu-cat-noi

Các linh mục trong giáo phận tuyên xưng Đức Tin và tuyên thệ trung thành với Đức Cha trong ngày nhận bài sai.

Sau đó, việc thuyên chuyển linh mục ngày càng thường xuyên hơn, dẫn đến việc có sự thay đổi hạt trưởng như cha Phêrô Đinh Văn Hùng nhậm chức chánh xứ Cao Xá kiêm quản hạt Đông Hưng Yên thay cha Đaminh Đặng Văn Cầu làm giám đốc Đại Chủng viện Thánh Tâm Mỹ Đức (2017), cha Vincentê Vũ Văn Hướng nhậm chức chánh xứ Bác Trạch kiêm quản hạt Bắc Tiền Hải thay Đức Ông Thomas nghỉ hưu và cha Giuse Trịnh Tiến Thành nhậm chức chánh

xứ Chánh Tòa làm quản hạt Thành Phố thay cha Phanxicô Assisi Nguyễn Tiến Tám làm chánh xứ Cao Mại, cha Giêrônimô Nguyễn Ngọc Hinh làm chánh xứ An Lập kiêm quản hạt Đông Hưng thay cha Luca Nguyễn Văn Định làm chánh xứ Đồng Quan (2019), cha Thomas Đoàn Xuân Thỏa làm chánh xứ Trung Đồng kiêm quản hạt Nam Tiền Hải thay cha Đaminh Nguyễn Văn Thao đi nghỉ bệnh (2020), cha Giuse Phạm Công Dũng làm chánh xứ Thượng Phúc kiêm quản hạt Thái Thụy thay cha Gioan Baotixita Đỗ Bá Dương làm chánh xứ Việt Yên (2021), các giáo vụ khác vẫn giữ nguyên cho đến ngày có đấng bản quyền mới.

Việc thuyên chuyển linh mục trong giáo phận Thái Bình có điểm khác so với các giáo phận khác: đó là những cha có quyết định thuyên chuyển, sau khi bàn giao sổ sách và tài sản cho giáo xứ, thì sẽ rời xứ cùng một ngày và tập trung nghỉ tại Nhà Chung, sáng hôm sau thì các cha sẽ cùng với Đức Giám mục dâng lễ tạ ơn và nhận bài sai cùng lúc. Sau Thánh lễ, các cha sẽ nhận nhiệm sở ngay lập tức, theo sự sắp xếp của lịch trình đã được thông báo cho cộng đoàn dân Chúa. Ngoài chức vụ cha xứ và cha phó được quy định theo Giáo luật, Đức Cha cũng đặt chức vụ “cha quản nhiệm”. Cha quản nhiệm là một linh mục trẻ về tuổi

linh mục, được trao phó coi sóc một giáo xứ có ít giáo dân hoặc mới lập gần đây, với thời gian coi sóc không quá 2 năm, tương tự với cha phó xứ, trừ khi lợi ích mục vụ đòi hỏi lâu hơn. Sau thời gian quản nhiệm, bản quyền giáo phận sẽ quyết định thuyên chuyển vị ấy làm cha quản nhiệm cho một xứ khác hay thăng lên quyền cha xứ. Về việc nhậm chức, đối với cha xứ thì sẽ gồm phần tuyên xưng Đức Tin, thề hứa trung thành, sau đó là các phần diễn nghĩa như dẫn vào ngồi ghế chủ tọa, trao giếng rửa tội, tòa giải tội, mở cửa và xông hương Nhà Tạm…, cha quản nhiệm thì sẽ không có phần diễn nghĩa. Đối với cha phó thì cha xứ sẽ đọc văn thư bổ nhiệm trước cộng đoàn Dân Chúa, sau đó sẽ vào Thánh lễ.

Về các dòng tu, bản thân Đức Cha là tu sĩ Dòng, cũng từng đặc trách Chủ tịch Ủy ban Tu sĩ của Hội đồng Giám mục, Đức Cha đã mời gọi thêm các dòng tu đến phục vụ trong giáo phận như Dòng Phanxicô Viện Tu, Tu hội Nhập Thể – Tận Hiến – Truyền Giáo, Dòng Tôn Thờ Máu Thánh Châu Báu Chúa Giêsu,… và cho phép các dòng thiết lập cơ sở trên giáo phận, có thể kể đến như Tu viện Vinh Sơn Cát Đàm của Dòng Đaminh, Tu viện Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Bổng Điền của Dòng Chúa Cứu Thế, Tu viện Nữ vương Hòa Bình Đống Cao của Dòng Đồng Công, Tu viện Thánh

Anrê Dũng Lạc Thái Sa của Dòng Phanxicô Viện Tu, Mái Ấm Cát Đàm của Dòng Don Bosco, Tu sở Phanxicô Xaviê Ngọc Châu Thái Bình của Dòng Thừa Sai Đức Tin, Tu sở Phú Đồng của Tu đoàn Nhà Chúa, Tu viện Bác Trạch của Dòng Mến Thánh Giá Tân Lập, Tu viện Cổ Việt của Dòng Mến Thánh Giá Tân Việt, Tu xá Mân Côi Đông Thọ của Dòng Mân Côi Bùi Chu… Đặc biệt, ngày 29/06/2020, Đức Cha đã ký sắc lệnh thiết lập các hội dòng và tu đoàn thuộc giáo phận: Hội dòng Mến Thánh Giá Phố Hiến với nhà mẹ đặt tại Tiên Chu, và Tu đoàn Lòng Chúa Thương Xót với hai nhánh nam nữ, với nhà mẹ đặt tại Trung tâm An Lạc.

Việc đào tạo ơn gọi linh mục giáo phận

Về việc đào tạo ơn gọi linh mục giáo phận, ngay khi về giáo phận, Đức Cha nâng chương trình đào tạo cho các thầy già từ 3 năm lên 6 năm (2 năm triết – 4 năm thần) là chương trình đào tạo linh mục cơ bản. Đặc biệt, với ưu tư về việc số linh mục chưa đủ đáp ứng cho giáo phận, trong khi có nhiều ơn gọi muốn dân thân mà Đại Chủng viện Hà Nội không đủ suất, từ niên khóa 2011-2012, Đức Cha đã tuyển sinh khóa chính quy với chương trình Ratio của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Cũng trong niên khóa này, Đức Cha đã mời

các cha giáo của Hội Xuân Bích là hội chuyên biệt đào tạo linh mục cùng tham gia điều hành Đại Chủng viện, với các ban giáo sư sau: cha giám đốc J.B. Nguyễn Sơn Hải, cha phó giám đốc Đaminh Trần Thái Hiệp PSS (nguyên Giám đốc Đại chủng viện Xuân Bích Huế), cha linh hướng Phaolô Micae Trần Minh Huy PSS, cha giám học Giuse Trần Xuân Chiêu – Giám học, cha quản lý Giuse Phạm Công Dũng và cha giám luật Giuse Bùi Đình Nguyện. Đến năm 2014, Ban Giám đốc Đại Chủng viện được trao hoàn toàn cho các cha trong giáo phận. Từ đó, cứ hai năm một lần, Đại Chủng viện sẽ tuyển sinh một khóa chính quy.

giao-xu-cat-noi

Các thầy khóa II ĐCV Thánh Tâm Mỹ Đức.

Hoa trái của Đại Chủng viện đã trổ sinh, khi vào ngày 08/12/2014 và ngày 01/01/2016, phần lớn các thầy khóa I (tức khóa thầy già) đã được Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ phong chức linh mục trong niềm xúc động của cộng đoàn dân Chúa và chính các tiến chức. Các tiến chức ấy bước theo đời dâng hiến từ khi tóc còn xanh, mà nay tóc bạc bước lên bàn thánh. Các ngài thi hành chức linh mục ở độ tuổi mà các linh mục khác đã chuẩn bị việc nghỉ hưu.

giao-xu-cat-noi Tiếp đó, ngày 08/12/2020, các tiến chức khóa II đã hân hoan bước lên Bàn Thánh. Đây là những tân linh mục được hoàn toàn đào tạo ở trong chủng viện giáo phận.

Để hợp thức hóa việc đào tạo linh mục trong giáo phận với danh nghĩa Đại Chủng viện, sau khi đã trao đổi, làm việc với những bộ ngành hữu trách trong xã hội và Giáo hội, ngày

17/07/2020, Bộ Nội Vụ có quyết định số 3721/BNV-TGCP chấp thuận việc thành lập Đại Chủng viện Thánh Tâm Thái Bình với các quyền lợi và nghĩa vụ

của một cơ sở đào tạo nhân sự tôn giáo chính quy. Song song đó, ngày 01/08/2020, Đức Tổng Giuse Nguyễn Chí Linh, Chủ tịch HĐGMVN, đã quyết định và chấp thuận việc thành lập ĐCV. Vậy ngày 10/08/2020, Đức Cha Phêrô đã ký quyết định thành lập ĐCV Thánh Tâm Thái Bình. Từ nay, Đại Chủng viện Thánh Tâm Thái Bình đã có tính chính danh để có thể tuyển sinh.

giao-xu-cat-noi

Quyết định thành lập ĐCV Thánh Tâm Thái Bình.

Căn cứ theo chương trình đào tạo được Hội đồng Giám mục đề ra, trước khi vào Đại Chủng viện, thì ứng sinh sẽ có các giai đoạn tìm hiểu (từ lớp 6 đến lớp 12), dự tu (học cao đẳng và đại học), tu sinh (sau đại học). Từ giai đoạn dự tu, khi các em đang học cao đẳng và đại học, thì mỗi tháng các em sẽ họp lại với nhau với cha đặc trách tu sinh để tĩnh tâm và nghe huấn đức. Đối với các em đi học tại Hà Nội và Miền Nam, thì sẽ có cha đặc trách tu sinh kiêm di dân đảm nhiệm.

Còn các em đang trong giai đoạn tìm hiểu ơn gọi hiện đang học trung học, với linh đạo và đặc sủng của một Salesian, Đức Cha đã có sáng kiến là tổ chức khóa nội trú hè cho các em tại Nhà Chung Giáo phận, với mục đích không chỉ có một chỗ vui chơi trong hè lành mạnh, hay chỉ gợi mở cho các em muốn đi tu, mà trước hết là giáo dục cho các em được những phẩm hạnh tốt lành. Tại đây, các em được rèn tính nhân bản trong việc vâng lời cha thầy và yêu thương bạn bè, tính kỷ luật trong việc giữ đúng giờ đúng giấc, tính trách nhiệm trong công việc được giao, cũng như phát triển nhân đức qua các việc cầu nguyện, tham dự Thánh lễ, chầu Thánh Thể, học hỏi Lời Chúa, phát triển thể lý qua những giờ thể thao, phát triển tư duy và năng khiếu qua các lớp ngoại ngữ và nhạc cụ…

Việc đào tạo giáo lý thiếu nhi và thiết lập các xứ đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể trong giáo phận

Về việc đào tạo giáo lý cho thiếu nhi tại giáo phận Thái Bình, trước kia, giáo phận Thái Bình cũng từng có phong trào Nghĩa Binh Thánh Thể, song vì hoàn cảnh xã hội, nên việc dạy giáo lý cho các em thiếu nhi bị hạn chế và giản lược chủ yếu là dạy kinh bổn và kinh bản hỏi qua các ông trùm bà quản, sau này khi mở cửa thì tại các giáo xứ xuất hiện các sinh hoạt theo hướng Thiếu Nhi Thánh Thể, dạy giáo lý theo sách giáo lý hồng ân của giáo phận Xuân Lộc, nhưng bởi do những anh chị giáo lý viên thiện chí, chưa được đào tạo và huấn luyện sa mạc bài bản. Nhận thấy Thiếu Nhi Thánh Thể là hội đoàn Công giáo Tiến hành phù hợp và thực tiễn nhất để giáo dục Đức Tin cho các em, Đức Cha đã tổ chức các khóa thường huấn, đào tạo mục vụ giáo lý cho các anh chị em huynh trưởng tại Đại Chủng viện Thánh Tâm Mỹ Đức do cha Đaminh Đặng Văn Cầu, trưởng khối giáo lý và cha Giuse Nguyễn Văn Tuyên, đặc trách Thiếu Nhi Thánh Thể, phụ trách chính, cũng như tổ chức buổi sa mạc huấn luyện tại giáo phận hoặc gửi anh chị em huynh trưởng đi sa mạc huấn luận ở giáo phận khác, ngõ hầu đào tạo các giáo lý viên huynh trưởng TNTT để từ đó hình thành nên những viên gạch xây dựng Liên đoàn Thiếu Nhi

Thánh Thể Thánh Giuse Nguyễn Duy Khang – Giáo phận Thái Bình, và nên đá tảng xây dựng xứ đoàn tại các giáo xứ.

giao-xu-cat-noi Năm 2014 là là mốc thời gian trổ sinh của Liên đoàn, với việc tổ chức Sa mạc Huynh trưởng Cấp I và Sa mạc Trợ úy tại Đại Chủng viện Mỹ Đức. Phần lớn các xứ đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể tại các xứ họ

được thành lập trong thời gian này. Đến nay, giáo phận Thái Bình đã có một đội ngũ giáo lý viên huynh trưởng hùng hậu, đầy nhiệt thuyết và đủ kinh nghiệm để dạy giáo lý cho thiếu nhi theo tôn chỉ “Cầu nguyện, Rước lễ, Hy sinh, Làm Tông đồ”.

Ngày 07/06/2015, Đại hội Thiếu Nhi Thánh Thể Giáo phận “Về Đất Hứa” lần đầu tiên được diễn ra tại giáo xứ Ngọc Đồng, quy tụ khoảng hơn 1500 tham dự viên là các em thiếu nhi Thánh Thể; các huynh trưởng, dự trưởng; các vị trương quản; và các Giáo lý viên.

Ngoài ra, Đức Cha cũng đã tổ chức các khóa thường huấn cho Hội đồng Mục vụ Giáo xứ theo cụm giáo hạt, các hội đoàn Huynh đoàn Giáo dân Đaminh, Hội Gia Trưởng, Hội Hiền Mẫu, Legio Mariae, Lòng Chúa Thương Xót … cũng được ngài và các cha đặc trách quan tâm và huấn luyện bài bản.

Xây Nhà Chung Giáo phận Thái Bình

Sau khi ổn định về mặt cơ cầu và tinh thần, Đức Cha hướng tới những đại công trình cho giáo phận. Gọi là “đại công trình” vì những dự án ấy là một khối lượng công việc khổng lồ, cần phải có mặt bằng rộng, chi phí lớn, và phải có sự đóng góp cực kỳ nhiều bằng vật chất, công sức và lời cầu nguyện của toàn thể cộng đoàn Dân Chúa trong giáo phận và quý ân nhân trong và ngoài nước. Đổi lại, những công trình ấy sau khi hoàn thành sẽ phát huy được những lợi ích cho công tác mục vụ và truyền giáo cho giáo phận.

Trước tiên, phải kể đến dự án “Nhà Chung” là một khối nhà lớn, không chỉ là nơi làm việc của Tòa Giám mục, mà là một dãy nhà đón tiếp các cha về dự thường huấn, tĩnh tâm hay nghỉ dưỡng. Đây cũng sẽ là nơi đào tạo, sinh hoạt và tĩnh tâm của các hội đoàn trong giáo phận, và là nơi huấn đức cho các em dự tu. Thực tế,

Tòa Giám mục ba tầng được xây dựng từ năm 1938 khi ấy, sau khi hứng chịu nhiều cuộc thiên tai và nhân tai, đã trở nên xuống cấp và nhỏ bé, trong khi các dãy nhà xung quanh là những nhà đơn lẻ, thiếu tính liên kết. Vì thế, việc xây dựng một khối nhà lớn để đáp ứng các nhu cầu cần thiết cho giáo phận là điều chính đáng.

giao-xu-cat-noi

Tòa Giám mục Thái Bình cũ.

giao-xu-cat-noi

Phối cảnh Nhà Chung Giáo phận Thái Bình.

Vậy ngày 01/05/2012, nhân dịp bế mạc Năm Thánh 75 năm giáo phận Thái Bình, Đức Cha Phêrô đã chủ sự Thánh lễ khởi công xây dựng Nhà Chung Giáo phận Thái Bình.

Ngôi nhà mới này với chiều dài 90m, rộng 46m, cao 27m từ mặt đất tới mái, cao 40m tính từ mặt đất tới đỉnh Thánh Giá. Các khối công trình được xếp đặt theo hình chữ nhật gồm hơn 300 phòng: đó là các phòng khách, phòng họp, phòng học, phòng thư viện, hội trường, nhà nguyện, phòng nghỉ, tạo ra một không gian sử dụng tối đa cho các mục đích. Phần giữa là “Sân công năng” hay còn gọi là “Giếng trời” với mục đích sử dụng cho các ngày lễ, ngày hội, học hỏi giao lưu của các đoàn thể trong giáo phận. Trước Nhà

Chung sẽ là một quảng trường rộng lớn để có thể tổ chức các đại lễ tầm cỡ giáo phận, với tiền đường Nhà Chung sẽ là lễ đài. Bấy nhiêu điều ấy cũng đủ cho tất cả thấy được đây là một công trình thế kỷ, cần phải có sự chung tay của toàn giáo phận và quý ân nhân xa gần.

giao-xu-cat-noi

Thánh lễ khởi công xây dựng Nhà Chung ngày 01/05/2012.

giao-xu-cat-noi

giao-xu-cat-noi Đức Cha làm phép khu đất xây dựng Nhà Chung.

giao-xu-cat-noi

Các nhân công thiện nguyện tại các xứ họ thi công đúc và ép cọc cho công trình Nhà Chung.

Ngày 01/09/2012, công trình chính thức khởi công bằng việc ép các cọc bê tông để làm móng. Sau hơn 3 tháng, với sự góp sức của 9471 nhân công là những giáo dân tại xứ họ trong toàn giáo phận, công trình đã đúc và ép được 22.782m cọc tương đương khoảng 2.000m3 bê tông ở độ sâu khoảng từ 32 đến 36m, và sau gần 2 tháng đã đúc được khoảng 150 đài cọc lớn nhỏ tương đương khoảng 600m3 bê tông, cùng với các tuyến dầm móng khoảng 200m3 bê tông. Ngày 13/02/2013, tức mồng 4 tết, Thánh lễ đặt viên đá góc tường đã được cử hành do Đức Cha Phêrô chủ sự.

Tiếp sau đó, từng hàng cột được mọc lên, các nhân công thiện nguyện cùng với các tổ thợ đua nhau ghép côp-pha, dàn sắt, cùng với những khối bê tông tầng trệt khoảng 5.000m3, trên diện tích hơn 4.000m2. Tiến trình được thi công liên hoàn, từng tấm bê tông nối tiếp vươn lên hết tầng II và tầng III. Trong giai đoạn này, giáo phận xây dựng hệ thống bể nước sạch, bể phốt, thoát nước cho công trình; đổ bê tông toàn bộ sân giếng trời với khối lượng 3.000m3 và đường xe trọng tải lớn đi xung quanh ngôi nhà có khối lượng 2.760m3; đồng thời thi công sân cỏ nhân tạo chuyên nghiệp theo tiêu chuẩn FIFA với diện tích trên 1.500m2. Trong thời gian này, Giáo phận cũng đã xây dựng một sân khấu nơi Quảng trường Nhà Chung, có đường trượt đưa các loại xe lên xuống để phục vụ các buổi lễ lớn, cũng như các cuộc giao lưu văn nghệ. Các công trình thiết yếu như nhà vệ sinh, nhà bếp, nhà ăn… cũng đã được lắp đặt, và cổng hậu dành cho những trường hợp khẩn cấp… Các hạng mục này đã được thi công nhanh chóng nhưng bảo đảm chất lượng và an toàn để đón chào hơn 20.000 bạn trẻ tham dự Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội lần thứ XI tại Thái Bình từ ngày 27 và 28/11/2013, với chủ đề “Tôi biết tôi tin vào ai”.

giao-xu-cat-noi

Sân cỏ đang được thi công.

giao-xu-cat-noi

giao-xu-cat-noi

Khung cảnh Nhà Chung trong Đại hội Giới trẻ lần thứ XI. Ảnh: Nguyễn Hà.

Sau cuộc Đại hội Giới trẻ diễn ra tốt đẹp, ngôi Nhà Chung lại bắt đầu thi công tăng tốc. Đúng ngày 01 tháng 08 năm 2014, chuyến bê tông tươi cuối cùng đã phủ kín miếng cắt trên mái thượng (tầng VII) của ngôi nhà. Như vậy là sau 7 lần ghép côp-pha dầm, làm sắt và đổ bê tông tầng trệt, cùng với 49 lần đổ bê tông tươi cho 7 tấm của ngôi nhà, gồm cả tấm bê tông trên mái (không kể tầng trệt) Chúa đã thương ban và chúc lành cho giáo phận được hoàn công một cách rất tốt đẹp. Vì thế, ngày 31/08/2014, Đức Cha đã cử hành Thánh lễ mừng công để dâng lời tạ ơn Thiên Chúa.

giao-xu-cat-noi

Các ông giáo dân đang xem những hình ảnh cộng đoàn giáo xứ mình tham gia xây dựng công trình trong ngày mừng công.

giao-xu-cat-noi

Thánh lễ mừng công Nhà Chung Giáo phận ngày 31/08/2014.

giao-xu-cat-noi

Đức Cha cố Phanxicô Xaviê chia sẻ với cộng đoàn.

Tiếp sau đó, giáo phận tiếp tục hoàn thành các hạng mục cuối cùng như lắp đặt hệ thống điện, nước, lắp cửa, sàn, nội thất… để chuẩn bị cho cuộc họp thường niên kỳ 1 của Hội đồng Giám mục Việt Nam diễn ra tại Thái Bình từ ngày 04-08/04/2016, đặc biệt với sự kiện Năm Thánh kỷ niệm 80 năm thành lập giáo phận. Vậy ngày 08/04/2016, dịp bế mạc cuộc họp, Thánh lễ tạ ơn mừng 80 năm Giáo phận Thái Bình và khánh thành Nhà Chung đã được cử hành do Đức Hồng Y Phêrô Nguyễn Văn Nhơn chủ sự. Cùng đồng tế có Đức Tổng Leopoldo Girelli, Đại diện Tòa Thánh không thường trú, cùng quý Đức Cha trong

HĐGMVN vừa tham dự xong kỳ họp thường niên này.

giao-xu-cat-noi giao-xu-cat-noi

giao-xu-cat-noi

Lế khánh thành Nhà Chung Giáo phận ngày 08/04/2016.

Xây Trung Tâm Lòng Chúa Thương Xót An Lạc

Ngay từ khi về giáo phận, Đức Cha Phêrô đã nghĩ tới người “nhỏ bé” trong cộng đoàn dân Chúa. Đó là những anh chị em đã bị thiệt thòi về thể lý và trí lực, những em mồ côi, những người phong cùi, những cụ neo đơn, cho nên những anh chị em này cần được quan tâm và yêu thương. Vì thế, từ khi về nhận giáo phận, mỗi dịp trước Giáng Sinh, Đức Cha đã tổ chức Đại hội Khuyết Tật tại cho tất cả anh chị em có hoàn cảnh kém may mắn trong và ngoài giáo phận về để được khích lệ và cùng vui chơi trong bình an của Chúa Hài

Đồng, với đại hội đầu tiên được tổ chức tại nhà thờ Bác Trạch vào ngày 18-19/11/2009, và các năm sau đó đều tổ chức đều đặn tại Tòa Giám mục. Vì thế, ao ước của Đức Cha là mong sao có một trung tâm bác ái đón nhận những anh chị em này, để tại nơi đó, anh chị em ấy sẽ được săn sóc y tế, được hướng nghiệp học nghề, và đặc biệt là anh chị em ấy được tham dự vào các cử hành phụng vụ để được kín múc nguồn ân sủng từ Lòng Thương Xót Chúa. Chính vì thế, ngày 26/08/2018, Đức Cha đã làm phép khởi công xây dựng Trung tâm Mục vụ Lòng Chúa Thương Xót trên phần đất rộng khoảng 30.000m2 tại giáo xứ An Lạc. Công trình này tuy là công trình nhà lắp ráp với khung thép nhà xưởng cỡ lớn và bê tông đúc sẵn, song rất bề thễ vững chãi, đáp ứng được nhu cầu đón nhận những anh chị em bất hạnh.

giao-xu-cat-noi

giao-xu-cat-noi Phần đất xây dựng Trung tâm LCTX An Lạc.

Thánh lễ khởi công Trung tâm LCTX An Lạc.

Ngày 03/03/2019, nhân dịp Đức Tổng Marek

\alewski, Đại diện Đức Thánh Cha không thường trú tại Việt Nam, đến viếng thăm giáo phận Thái Bình, Thánh lễ mừng công Trung tâm Lòng Chúa Thương Xót An Lạc đã được cử hành do Đức Tổng Marek chủ sự.

giao-xu-cat-noi

Thánh lễ mừng công Trung tâm LCTX An Lạc.

giao-xu-cat-noi

Khung thép của Trung tâm LCTX An Lạc.

Sau hơn 2 năm thi công, ngày 12/12/2020, thánh lễ tạ ơn khánh thành Trung tâm Mục vụ Lòng Chúa Thương Xót đã được cử hành do Đức Cha Phê rô chủ sự. Cùng đồng tế có Đức Hồng Y Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Đức Tổng Giuse Vũ Văn Thiên, Đức Cha Thomas Vũ Đình Hiệu giám mục Bùi Chu và Đức Cha Giuse Nguyễn Đức Cường, giám mục Thanh Hóa.

giao-xu-cat-noi

Thánh lễ khánh thành Trung tâm LCTX An Lạc ngày 12/12/2020.

Xây Đại Chủng viện Thánh Tâm Thái Bình

Sau cùng, công trình vật chất mà ngài để lại cho giáo phận đó là Đại Chủng viện Thánh Tâm Thái Bình. Trải qua gần 85 năm, công trình Chủng viện Mỹ Đức năm xưa mà Đức Cha tiên khởi Juan Casado Thuận

O.P. dày công xây dựng đã trở nên nhỏ bé và xuống cấp, không còn đủ chỗ để có thể dung nạp gần 100 chủng sinh, và cũng chẳng bảo đảm an toàn. Vì thế, Đức Cha và linh mục đoàn giáo phận đã quyết định xây dựng Đại Chủng viện mới. Vậy từ niên khóa 2019-2020, các thầy đã chuyển sang học tại Nhà Chung để lấy mặt bằng xây dựng Đại Chủng viện mới.

giao-xu-cat-noi

Đại Chủng viện Thánh Tâm Mỹ Đức cũ.

giao-xu-cat-noi

Những nét kiến trúc của Chủng viện Mỹ Đức.

giao-xu-cat-noi

giao-xu-cat-noi Chủng viện Mỹ Đức trong ngày tháo dỡ. Ảnh: Danh Phạm.

Phối cảnh Đại Chủng viện Thánh Tâm Thái Bình.

Ngày 01/01/2020, nhân lễ Mẹ Thiên Chúa, Đức Cha Phêrô đã chủ sự Thánh lễ làm phép viên đá góc tường xây dựng Đại Chủng viện Thánh Tâm Thái Bình mới.

giao-xu-cat-noi

giao-xu-cat-noi

Công trình Đại Chủng viện mới là một tòa nhà 6 tầng, có tổng chiều dài 94,6m, chiều rộng 69m, chiều cao 42m, xây dựng trên diện tích 18.000m2. Công trình sẽ bao gồm 14 phòng học chung và riêng, 138 phòng ở cho quý thầy, 26 phòng ở cho quý cha, nhà nguyện, thư viện, phòng đọc sách, phòng tin học, phòng họp, phòng khách, có vườn cây, sân thể thao cho quý thầy. Đây là một khối lượng công việc lớn, cần đòi hỏi công sức, vật lực và lời cầu nguyện của cộng đoàn giáo phận, vì “Ví như Chúa chẳng xây nhà, Thợ nề vất vả cũng là uổng công” (Tv 127,1). Vì thế, ngoài thời gian học, các thầy chủng sinh từ khóa 3 đến khóa 8 đã tham gia trong việc đóng gạch, xây tường, đổ bê tông xây dựng công trình. Có những lúc toàn bộ chủng viện cùng

nhau xây dựng công trình toàn thời gian. Chưa kể đến các nhân công thiện nguyện từ các xứ họ trong giáo phận đến giúp sức.

Ngày 29/04/2022, nhân dịp các Đức Cha trong HĐGM vừa họp xong kỳ họp thường niên lần 1/2022 tại Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, Đức Cha Phêrô đã cử hành Thánh lễ tạ ơn 85 năm giáo phận và mừng công Đại Chủng viện Mỹ Đức.

giao-xu-cat-noi

Tiếp đó, công trình tiếp tục tăng tốc để cất nóc, sơn trét, lắp điện, nước, nội thất… Sau bao tháng ngày mong đợi, ngày 31/12/2024, Thánh lễ khánh thành Đại Chủng viện Thánh Tâm đã được cử hành do Đức Tổng Marek \aleskwi, Đại diện Đức Thánh Cha tại Việt Nam, chủ sự, trong sự hân hoan của cộng đoàn Dân Chúa trong giáo phận.

giao-xu-cat-noi

Công trình Đại Chủng viện Thánh Tâm Thái Bình trong ngày khánh thành.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG NGÀY LỄ KHÁNH THÀNH VÀ LÀM PHÉP ĐẠI CHỦNG VIfiN THÁNH TÂM THÁI BÌNH

giao-xu-cat-noi

giao-xu-cat-noi

Tiểu sử Đức Cha Đaminh Đặng Văn Cầu

Ngày 29/10/2022, Đức Cha Phêrô được Đức Thánh Cha Phanxicô chấp thuận từ nhiệm Giám mục Chánh Tòa Thái Bình. Tuy nghỉ sứ vụ giám mục chánh tòa, nhưng ngài vẫn tiếp tục lo các việc bác ái cho những người nhỏ bé tại Trung Tâm LCTX An Lạc. Ngoài ra, Đức Cha thường giúp đỡ Đức Cha kế nhiệm trong việc mục vụ, cụ thể ngài chủ tế Thánh lễ cầu cho tiền nhân trước ngày lễ tạ ơn hôm sau, ban bí tích thêm sức, hoặc chủ tế tuần chầu lượt tại các giáo xứ.

giao-xu-cat-noi Song song với sự tri ân đối với Đức Cha Phêrô, cộng đoàn Thái Bình phấn khởi khi được tin: Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm cha Đaminh Đặng Văn Cầu, đang là giám đốc Đại Chủng viện Thánh Tâm Thái Bình, làm giám mục chánh tòa giáo phận Thái Bình.

Đức Cha Đaminh Đặng Văn Cầu sinh ngày 17/07/1962 tại giáo xứ Lương

Đống, giáo phận Thái Bình. Từ thuở nhỏ, cậu Đaminh được cha già cố Joachim Trần Trọng Uyên cho đi theo giúp lễ tại quê nhà. Sau khi bà cố qua đời năm 1970 thì cậu đi theo cha già Joachim khi ấy là quản lý chủng viện, vào ở trong Chủng viện Mỹ Đức mà giúp việc cùng tập tành nhân đức. Khi cha Joachim được thuyên chuyển về coi xứ Thân Thượng, thì cậu Đaminh vẫn ở Chủng viện mà giúp việc sổ sách cho Đức Cha Giuse Maria Đinh Bỉnh. Cậu Đaminh cũng thạo đàn giỏi ca, nên cậu Đaminh thường đạp xe từ xứ này xứ kia mà tập ca đoàn cho họ. Vậy khi Đức Cha thấy cậu sáng dạ được việc, đạo đức sốt sắng, chắc mẩm sẽ bền đỗ trong đường tu trì, nên Đức Cha đã gửi cậu tu học tại Đại Chủng viện Thánh Giuse Hà Nội. Song đang lúc chuẩn bị lên đường, thì Đức Cha được Chúa gọi về cách đột ngột. Cho nên sau này, khi nhắc về Đức Cha Giuse Maria Bỉnh, thì người cũng có vài lần xúc động lắm. Đến sau hết thì người nhận cha cố Giuse Maria Mai Trần Huynh là nghĩa phụ.

Vậy thầy Đaminh học khóa 3 Đại Chủng viện Hà Nội (1989-1995) chung với ba thầy trong giáo phận đã kể ở phần nói về Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang. Mà trong khóa của ngài thì đã diễm phúc gặp được Hai Đấng Thánh: đó là Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, và Mẹ Têrêsa Calcutta, vì

Mẹ có đến thăm Chủng viện Hà Nội, có Đức Cha Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng và Đức Tổng F.X. Nguyễn Văn Thuận cùng các thầy khóa 3 ra đón.

Ngày 09/03/1996, thầy đã được lãnh chức linh mục bởi tay Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang, trong dịp khai mạc Năm Thánh 60 năm Giáo phận Thái Bình. Từ khi còn làm thầy, Đức Cha hài lòng thầy tận tụy với công việc, nên đã đặt cha làm chánh văn phòng Tòa Giám mục cùng bí thư cho ngài. Sau bốn năm tận tụy nơi bàn giấy và theo bước Đức Cha, năm 2000, Đức Cha gửi cha Đaminh đi du học tại Đại học Công giáo Paris. Tốt nghiệp bằng Cao học Mục vụ Huấn giáo năm 2005, ngài trở về nước và được bổ nhiệm làm chánh văn phòng kiêm trưởng ban Giáo lý vào năm 2006. Từ năm 2008-2009, cha Đaminh được bổ nhiệm làm Tổng Đại diện. Trong thời gian này, cha Đaminh đi giảng dạy tại Đại Chủng viện Thánh Giuse Hà Nội và phó giám đốc Đại Chủng viện Thánh Tâm Thái Bình.

Năm 2009, cha Đaminh được bổ nhiệm làm chánh xứ Văn Lăng, là một giáo xứ mới tách từ xứ Giáo Nghĩa từ năm 2006. Đồng thời, ngài được Đức Cha Phêrô bổ nhiệm làm Trưởng khối Giáo lý, đặc trách Ban Giáo lý viên Giáo phận.

Năm 2014, trong đợt thuyên chuyển chung của các linh mục toàn giáo phận, ngài được bổ nhiệm làm chánh xứ Cao Xá, kiêm hạt trưởng Đông Hưng Yên và Đại diện Giám mục Đặc trách miền Hưng Yên. Từ năm 2017, ngài được bổ nhiệm làm Giám đốc Đại Chủng viện Thánh Tâm Mỹ Đức.

Khi cả giáo phận biết tin, thì ai nấy đều vui mừng, vì Đức Tân Giám mục chẳng phải một người xa lạ, nhưng lại rất đỗi thân quen, vì ngài là vị giám mục giáo phận Thái Bình được sinh ra trên mảnh đất quê lúa Thái Bình và xuất thân từ hàng linh mục đoàn giáo phận Thái Bình. Mà các giáo dân thì còn ai lạ gì một cha giáo luôn có nét mặt vui tươi với bài giảng dí dỏm dễ đi vào lòng giáo dân.

Ngày 31/12/2022, Thánh lễ Tấn phong Giám mục đã được cử hành trước Tiền đường Nhà Chung Thái Bình do Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ chủ phong, Đức Cha Giuse Trần Văn Toản, giám mục Long Xuyên và Đức Cha Giuse Nguyễn Tấn Tước, giám mục Phú Cường, phụ phong.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH LỄ PHONG CHỨC GIÁM MỤC CỦA ĐỨC CHA ĐAMINH ĐẶNG VĂN CẦU

giao-xu-cat-noi

giao-xu-cat-noi

giao-xu-cat-noi

giao-xu-cat-noi

Cha hãy nhận lấy chiếc gậy, dấu hiệu nhiệm vụ mục tử…

Những việc Đức Cha Đaminh đã làm trong hai năm đầu sứ vụ

giao-xu-cat-noi Ngày 01/01/2023, lễ Mẹ Thiên Chúa, tại nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình, Đức Cha Đaminh đã khởi đầu sứ vụ mục tử tại giáo phận Thái Bình.

Về nhân sự, Đức Cha tiếp tục đặt cha Phanxicô Assisi làm cha Tổng Đại

diện, đặt cha Giuse Mai Văn Diện làm giám đốc Đại Chủng viện, cha Joachim Đặng Văn Hội làm phó giám đốc, cha Giuse Bùi Văn Phương làm quản lý giáo phận, cha Gioan Chu Văn Yên làm chánh văn phòng, cùng tám cha quản hạt: cha Gioan Baotixita Đỗ Bá Dương chánh xứ Ngọc Đồng kiêm quản hạt Tây Hưng Yên và đại diện giám mục miền Hưng Yên, cha Vincentê Vũ Văn Hướng chánh xứ Bác Trạch kiêm quản hạt Bắc Tiền Hải, cha Giêrônimô Nguyễn Ngọc Hinh chánh xứ An Lập kiêm quản hạt Đông Hưng, cha Giuse Phạm Công Dũng chánh xứ Thượng Phúc kiêm quản hạt Thái Thụy, cha Đaminh Nguyễn Văn Quát chánh xứ Thân Thượng kiêm quản hạt Kiến Xương, cha

Giuse Nguyễn Văn Tuyên chánh xứ Chánh Tòa kiêm quản hạt Thành phố, cha Đaminh Bùi Thế Truyền chánh xứ Trung Đồng kiêm quản hạt Nam Tiền Hải, cha Đaminh Trần Văn Thức chánh xứ Cao Xá kiêm quản hạt Đông Hưng Yên. Đến năm 2024, cha Đaminh Vũ Minh Trí đang là chánh xứ Vinh Sơn được cử làm chánh xứ Ngọc Đồng kiêm quản hạt Tây Hưng Yên và đại diện giám mục miền Hưng Yên, thay cha Gioan Baotixita Đỗ Bá Dương được tái bổ nhiệm làm chánh xứ Đan Chàng. Năm 2026, cha Đaminh Bùi Đình Nguyện đang là chánh xứ Duyên Lãng được bổ nhiệm làm chánh xứ An Lập và Duyên Lãng, kiêm quản hạt Đông Hưng, thay cha Giêrônimô Nguyễn Ngọc Hinh dưỡng bịnh.

Khi Đức Cha nhậm chức giám mục Thái Bình, thì giáo phận đã có đủ các cơ sở cần thiết và cơ cấu vững chắc, nên đường hướng mục vụ của Đức Cha hướng về đời sống thiêng liêng và đồng hành nhiều hơn. Từ khi trấn nhậm giáo phận, Đức Cha đã phát động toàn thể cộng đoàn Dân Chúa học hỏi Tin Mừng của bốn Thánh sử qua mỗi năm, cùng phát động thi theo cụm xứ, hạt và giáo phận, với ước muốn khi đến mốc 90 năm thành lập giáo phận, người người trong giáo phận đều hiểu biết và sống Tin Mừng.

Trong thời của Đức Cha Đaminh là thời kỳ bùng nổ công nghệ thông tin mạnh mẽ và thay đổi liên tục. Vì thế, phương cách hoạt động truyền thông giáo phận đã thay đổi. Trước kia, kênh Youtube của giáo phận chỉ thuần đưa tin và trực tiếp Thánh lễ, thì nay, Ban truyền thông đã có các mục Bài giảng Tin Mừng do chính các cha giáo trong chủng viện soạn và đứng trình bày trên video, mục Gia đình Cầu nguyện với Lời Chúa…, và đặc biệt là mục Tâm tình Mục tử bằng việc phỏng vấn Đức Cha về chương trình mục vụ trong tháng. Nếu trước kia, các Đức Cha gửi thư mục vụ cho cộng đoàn giáo phận, thì nay có cộng đoàn dân Chúa có thể nghe được những tâm tình và ưu tư mục vụ của chủ chăn giáo phận cách sống động bằng âm thanh và hình ảnh, từ đó càng dễ thấu hiểu và hiệp thông với nỗi trăn trở của ngài.

Đức Cha rất quan tâm đến các anh chị em di dân Thái Bình và các bạn giới trẻ sinh viên tại những nơi xa Thái Bình. Vì thế, ngay khi về giáo phận, Đức Cha đã bổ nhiệm cha giám đốc trụ sở Thái Bình, đặc trách di dân Thái Bình tại Miền Nam là cha Phêrô Vêrôna Trần Văn Nhật để đồng hành với anh chị em xa quê và các bạn dự tu đang học tập ở trong Miền Nam. Kể từ khi có cha Phêrô Vêrôna về đặc trách trụ sở, nơi đây trở thành nơi sinh hoạt, hội họp của các anh chị em xa

quê, cũng như tại đây, anh chị em xa quê có thể tham dự những buổi Ngắm sự thương khó, Dâng hoa… truyền thống của giáo phận. Đặc biệt, mỗi dịp mừng lễ bổn mạng đồng hương, trong khả năng, Đức Cha sẽ đến tham dự và chủ tế Thánh lễ, dù rằng có những Hội đồng hương có số người khiêm tốn, tất cả để thể hiện tấm lòng phụ tử của vị chủ chăn với đoàn chiên xa xứ.

Những sự kiện đáng nhớ của giáo phận Thái Bình trong Năm Thánh Hy Vọng 2025

Sang năm 2025, là Năm Thánh Thường Lệ của Hội Thánh. Ngoài những cử hành phụng vụ và sinh hoạt chung trong Năm Thánh, Giáo phận Thái Bình đã có những sự kiện sau: ngày 27/06/2025, nhân lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, Đức Cha Đaminh đã ký và ban sắc thành lập 19 tân giáo xứ: An Bình (Đội Trạch), An Lão, Bắc Hải (Vát Cấp), Cam Lai, Cát Nội, Giáo Thiện, Hưng Long, Luật Trung, Micae (Rồi Công Tây), Phú Đồng, Rưỡng Trực, Antôn (Đồng Trực), Thánh Giuse (Vọng Lỗ), Thanh Nê, Thọ Cách, Thọ Lộc, Thượng Vạn, Trinh Vương (Kính Danh Cổ Việt) và Xuân Hải.

Tiếp đó là Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội lần thứ XXI diển ra ngày 18 và 19/11/2025 với chủ đề “Chúng

tôi cùng đi với anh” quy tụ hơn 9000 bạn trẻ của 11 giáo phận trong giáo tỉnh Hà Nội.

Tiếp nối hồng ân đầy tràn từ Thiên Chúa, Đức Cha Đaminh đã xin Tòa Thánh rộng ban mở Năm Thánh 90 năm thành lập Giáo phận, với việc lãnh ơn toàn xá trong các dịp chầu lượt tại các giáo xứ. Ngày 01/01/2026, lễ Mẹ Thiên Chúa, Đức Cha Đaminh đã khai mạc Năm Thánh tại nhà thờ Chánh Tòa Thái Bình.

Ngày 04/06/2026, nhân lễ kính trọng thể Thánh Tâm Chúa Giêsu, Đức Cha Đaminh đã trao sắc thành lập hai tân giáo xứ Trần Xá và Hoàng Trạch (ký ngày 24/05).

giao-xu-cat-noi

Lễ ban sắc thành lập 19 tân giáo xứ ngày 27/06/2025.

giao-xu-cat-noi

Đức Cha Đaminh trao sắc thành lập giáo xứ Thọ Lộc.

giao-xu-cat-noi

Đức Cha Đaminh khai mạc Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội.

giao-xu-cat-noi

Nghi thức rước Thánh giá Đại hội lên lễ đài trong Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội lần thứ XXI.

LƯỢC SỬ ĐỒNG HƯƠNG THÁI BÌNH MIỀN NAM 1954

Tổng quan về bối cảnh và đời sống di cư

Ngày 20/07/1954, Hiệp định Genève được ký kết, trong đó tạm chia đôi Việt Nam tại nơi vĩ tuyến 17, sông Bến Hải, và trong vòng 300 ngày từ 20.07.1954 – 30.04.1955, ngoài việc giải giới quân đội, người dân hai bên có quyền di cư lên xuống hai miền theo nguyện vọng. Khi nhận được tin, bà con giáo dân đa phần chọn di cư vào Nam, do các vị ấy đã phải trải qua chiến tranh bom đạn với nhiều đau thương mất mát, và khi cuộc chiến kết thúc, các anh chị em ấy không có cái gì chắc chắn để bảo đảm về một sự an toàn cho việc sống Đức Tin và sống giữa đời, nên họ phải rời đi, trừ một số ít vì lý do cá nhân nên ở lại (do già cả, bệnh tật, sinh nở, tiếc gia nghiệp cha ông, chờ con đi kháng chiến về…) Có nơi thì đi theo gia đình, có nơi đi theo tốp, nhưng có nơi thì đi cả xứ, cả làng, mà cha xứ dẫn đầu như Duyên Lãng, Ninh Cù, Xá Thị, Vạn Đồn, Lê Xá, Hạ Lễ, Lực Điền, Cảnh Lâm, Hoàng Xá, Trung Châu… thậm chí có những nơi còn nhớ ngày cả làng

tập trung trước nhà thờ để đồng loạt rời đi như Ngọc Đồng (23/7), Cao Mộc (25/7), Cao Xá (30/7)… Trước khi đi, họ bán tống bán tháo hết trâu bò, gà lợn, lúa thóc, vật dụng… cho làng kế bên, lại có nơi đồng loạt mổ lợn, nấu xôi… như ngày đám cỗ, để có cái ăn dọc đường. Phương tiện đi thì đa dạng, có người thì đi ngả Nam Định lên Hà Nội để đi máy bay, song phần nhiều là đi qua ngả Hải Dương, Hải Phòng tạm trú ít lâu, rồi xuống tàu há mồm vào Nam. Đây cũng là lúc các ông Tây học ở trong làng được phát huy, vì các ông ấy đảm nhiệm việc phiên dịch và liên lạc với thuyền viên, vốn là người Pháp và người Mỹ. Có khoảng 80000 giáo dân Thái Bình đã di cư vào Nam, cùng với 48 linh mục, 203 thầy giảng và hơn 400 nữ tu.

Khi vào Nam, họ được chuyển tới các trại tạm cư, trong đó, trại tạm cư lớn nhất là trại Phú Thọ Lều, đóng ở trường đua Phú Thọ. Đó là nơi đóng những căn bạt lớn được chia theo lô ngăn nắp. Mỗi bạt có thể chứa tới 4-5 gia đình. Họ ở đấy một thời gian, rồi được chuyển về các trại định cư ở ven Đô Thành Saigon. Trong đó, hai trung tâm định cư gốc Thái Bình lớn nhất gần Saigon nằm ở Lạc An (Bình Dương) và Hố Nai (Biên Hòa). Sau khi được đến các trại định cư, họ được giao cho đất đai, nông cụ, hạt giống, lương thực để mưu sinh.

giao-xu-cat-noi

Trại tạm cư Phú Thọ Lều.

Theo Sổ tay các làng định cư đến tháng 12/195543 thì các xứ gốc Thái Bình gồm như sau:

  • Xứ Bưng Trường (Hiếu Hiệp), tỉnh Vĩnh Long do cha Đaminh Trần Ngọc Trác phụ trách, số giáo dân 1027.
  • Xứ Thiên Vương (Đốc Vàng), tỉnh Long Xuyên do cha JB. Trần Chấn Chỉnh phụ trách, số giáo dân 2000.
  • Xứ Lương Hòa Thượng, tỉnh Chợ Lớn, do cha Đaminh Lương Thiện Khuyến phụ trách, số giáo dân 1002.

43 Hồ sơ 4410, Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa (1954 – 1963), Trung Tâm Lưu trữ Ǫuốc Gia II.

  • Xứ Nghĩa Hòa (Chí Hòa), tỉnh Gia Định do cha Đaminh Đinh Huy Năng phụ trách, số giáo dân 2600.
  • Xứ Tân Việt (Phú Thọ Hòa), tỉnh Gia Định, do cha Đaminh Vũ Đức Triêm phụ trách.
  • Xứ Tân Thái Sơn (Tân Sơn Nhì), tỉnh Gia Định, do cha Đaminh Trần Khắc Thiệu phụ trách.
  • Xứ Thân Thượng (Xóm Mới), tỉnh Gia Định, do cha Đaminh Phan Quang Tú phụ trách (phần lớn gốc Thân Thượng, Cao Mại, Bác Trạch).
  • Xứ Mẫu Tâm (Long Phước Thôn), tỉnh Gia Định, do cha Giuse Trần Quang Vũ phụ trách.
  • Xứ Mỹ Hòa (Bình Trưng), tỉnh Gia Định, do cha Đaminh Vũ Bội Quỳnh phụ trách.
  • Xứ Ninh Xá (Tân Lập), tỉnh Gia Định, do cha Đaminh Đỗ Vạn Toàn phụ trách.
  • Xứ Tràng Lũ (Tân Lập), tỉnh Gia Định, do cha Vincentê Phạm Chí Thiện phụ trách.
  • Xứ Tân Chí Linh, tỉnh Gia Định, do cha Đaminh Vũ Phụng Thuyên phụ trách.
  • Xứ Bình Nam (Bà Nhã), tỉnh Tây Ninh, do cha Giuse Phạm Hữu Đoàn phụ trách, số giáo dân 1621.
  • Xứ Cao Xá (Tầm Long), tỉnh Tây Ninh, do cha Vincentê Nguyễn Hữu Dụ O.P. phụ trách, số giáo dân 4648.
  • Xứ Văn Côi (Hố Nai), tỉnh Biên Hòa, do cha Đaminh Phạm Đức Sự O.P. phụ trách, số giáo dân 4745.
  • Xứ Lộ Đức (Hố Nai), tỉnh Biên Hòa, do cha Đaminh Đỗ Đức Thụ phụ trách, số giáo dân 3636.
  • Xứ Ngũ Phúc (Hố Nai), tỉnh Biên Hòa, do cha Đaminh Phạm Hữu Tư phụ trách, số giáo dân 3418.
  • Xứ Vạn Phúc (Lạc An), tỉnh Biên Hòa, do cha Phêrô Mai Trí Thuật phụ trách, số giáo dân 5331.
  • Xứ Ngọc Tiên (Lạc An), tỉnh Biên Hòa, do cha Micae Nguyễn Khắc Tuần O.P. phụ trách, số giáo dân 3622.
  • Xứ Hoàng Châu (Lạc An), tỉnh Biên Hòa, do cha Đaminh Trần Trung Trực phụ trách, số giáo dân 1927.
  • Xứ Mỹ Vân (Lạc An), tỉnh Biên Hòa, do cha Đaminh Trịnh Đức Luyện phụ trách, số giáo dân 3307.
  • Xứ Biên Hà (Lạc An), tỉnh Biên Hòa, do cha Đaminh Trịnh Ngọc Phan phụ trách, số giáo dân 912.
  • Xứ Bình Cát (Thường Long), tỉnh Biên Hòa, do cha Phêrô Trần Minh Tân phụ trách, số giáo dân 3304.
  • Xứ Long Hương, tỉnh Bà Rịa, do cha Đaminh Hoàng Phúc Lộc phụ trách, số giáo dân 1032.

Sau một thời gian, nhận thấy điều kiện ở một số nơi không còn phù hợp để định cư lâu dài, nên một số cha đã đưa cộng đoàn đến những vùng đất khác, hình thành nên các xứ đạo:

  • Xứ Thái Xuân di chuyển từ Đốc Vàng đến Bảo Định (1956).
  • Xứ Tân Phú di chuyển từ Bưng Trường (1957) đến Lễ Trang, Phước Thành, năm 1972 di chuyển về Xuân Lộc (tức xứ Duyên Lãng).
  • Xứ Bảo Thị di chuyển từ Tân Lập lên Bảo Định (1957).
  • Xứ Thái Lạc di chuyển từ Lương Hòa lên Long Thành (1958).
  • Xứ Long Bình và Nghĩa Sơn di chuyển từ Long Phước Thôn đến Đồng Tròn, Long Bình (1958).
  • Xứ Cao Thái di chuyển từ Long Phước Thôn đến Long Bình (1967).

Chưa kể đến từ năm 1956, khi chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thiết lập khu định cư Cái Sắn, nhiều trại định cư đã chọn xuống dưới đó để sinh sống.

Sau đây sẽ là một số khu vực có nhiều giáo dân gốc Thái Bình tại Miền Nam:

THÁI HƯNG – LẠC AN

giao-xu-cat-noiĐức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền thăm trại định cư Lạc An gốc địa phận Thái Bình. Bên trái là cha hạt trưởng Đaminh Trịnh Đức Luyện, bên phải là cha Thomas Trần Lê Vinh.

Khu định cư người Thái Bình tại Lạc An, Tân Uyên, Bình Dương (trước kia thuộc tỉnh Biên Hòa) nằm ven sông Đồng Nai được đặt tên là ấp Thái Hưng (Thái Bình – Hưng Yên) và chia theo các khu theo tên các xứ họ ngoài Bắc: Hữu Vy, Trà Vy, Vĩnh Phúc (sau gộp là xứ Biên Hà) Lực Điền,

Tân Mỹ, Thái Nội, Tử Dương, Trung Đồng (sau gộp là xứ Lực Điền), Đan Chàng, Bích Tây, Hạ Lễ, Lê Xá (sau gộp là xứ Mỹ Vân), Trung Châu, Hoàng Xá, Ninh Tập, Mạn Trù, Hưng Yên, Ngọc Châu (sau gộp là xứ Hoàng Châu), Ngô Xá, Võng Phan, Tiên Chu (sau gộp là xứ Võng Phan), Cảnh Lâm (sau gộp là xứ Cảnh Lâm), Ngọc Đồng (sau gộp là xứ Ngọc Đồng), Thượng Phúc, Hà Xá, Vân Am, Vạn Đồn, Thọ Cách, Bích Du, Sơn Thọ… (sau gộp là xứ Thượng Phúc).

Chính vì có gốc Thái Bình, nên Lạc An vẫn còn mang các nhà thờ mang tên họ gốc Thái Bình như Biên Hà, Lực Điền, Mỹ Vân, Lê Xá, Hạ Lễ, Hoàng Châu, Võng Phan, Cảnh Lâm, Ngọc Đồng, Thượng Phúc, Hà Xá, Vân Am. Một số giáo dân Hà Xá sang bên kia sông, phía huyện Vĩnh Cửu, lập xứ mới Đại An. Giáo dân ở đây chủ yếu làm nghề nông, đan rổ, đan lưới và chài lưới trên sông Đồng Nai, nên đời sống anh chị em còn mang nét thôn quê chân chất, với điều kiện kinh tế còn hạn chế.

Lại vì tại khu vực này có nhiều xứ đạo, nên trại định cư Lạc An trở thành giáo hạt Lạc An, do cha Đaminh Trịnh Đức Luyện, chánh xứ Mỹ Vân (nguyên chánh xứ Đan Chàng, Bắc Việt) làm cha hạt trưởng.

Lạc An nằm ở vùng sâu vùng xa, lại ngay vùng chiến sự, nên các xứ đạo tại đây không ít lần phải hứng chịu bom rơi đạn lạc. Thiệt hại hơn cả là vào tháng 08/1974, xứ đạo Lạc An trở thành nơi pháo kích ác liệt, giáo dân phải di tản xuống Hố Nai. Khi giáo dân trở về, mọi thứ đã thành bình địa, các nhà thờ Lực Điền, Mỹ Vân, Cảnh Lâm… trong cảnh “không còn hòn đá nào trên hòn đá nào”. Đang khi chưa kịp vực dậy các xứ đạo trong vùng, thì biến cố 1975 xảy đến. Lúc này thì toàn hạt Lạc An chỉ còn cha Đaminh Hà Chí Luyến ở Thượng Phúc, cha Phêrô Lưu Đức Tân ở Võng Phan, cha Giuse Phạm Quang Tòng ở Cảnh Lâm, và cha Giuse Đào Nguyên Thống (quê Kẻ Sặt) ở Lực Điền. Các cha đã cố gắng vận động chính quyền cũng như bà con giáo dân đóng góp xây dựng lại xứ đạo Lạc An được ổn định như hiện nay.

Hiện nay, tuy đời sống của giáo dân Lạc An đã khấm khá, mặc dù không hẳn là quá dư giả. Các nhà thờ tại đây đã được xây lại, tuy không to lớn nhưng đủ khang trang cho việc thờ phượng. Lại vì các xứ sống với nhau theo tình nghĩa làng xã nên hằng năm, các hội đồng hương cũng hiệp nhau mà tổ chức lễ quan thầy cách long trọng, trong đó phải kể đến hội đồng hương Cảnh Lâm, Hà Xá, Lê Xá, Hạ Lễ… là những hội có nhà nguyện ri

HỐ NAI – BIÊN HÒA

giao-xu-cat-noi

Nhà thờ Ngọc Đồng Hố Nai.

Khu định cư người Thái Bình tại Hố Nai nằm ở cây số 10-11, bắt đầu từ giáo xứ Thánh Tâm đến giáo xứ Ngũ Phúc, với các khu Tràng Quan, Tiên Chu, Ngọc Đồng, Hoàng Độc, Hoàng Xá, Sài Quất, Ngô Xá, Lương Hội, An Lập, Quỳnh Lang. Riêng Lai Ổn thì tiến sâu hơn, vào Đồng Lách lập xứ. Dân cư gốc Thái Bình ở Hố Nai rất đông đúc, lại có thêm những người từ Lạc An sang Hố Nai lập nghiệp, nên các anh chị em Thái Bình đã tràn sang khu vực của Hà Nội là giáo xứ Thánh Tâm và giáo xứ Hà Nội, với cộng đoàn gốc Thuần Túy phát triển mạnh hơn cả, đã lập được nhà nguyện riêng. Ban đầu, Đức Cha địa phận Saigon cho thành lập ba xứ là

Lộ Đức, Văn Côi và Ngũ Phúc. Mãi đến khi địa phận Xuân Lộc được thành lập, thì Đức Cha Giuse Lê Văn Ấn mới biệt các họ trong ba xứ ấy thành các xứ riêng. Hiện nay, tại Hố Nai còn các xứ còn mang tên gốc Thái Bình như Tiên Chu, Lộ Đức (Tràng Quan), Lai Ổn, Đông Vinh, Ngọc Đồng, Sài Quất, Ngô Xá, Ngũ Phúc (An Lập), và các xứ đông người gốc Thái Bình là Hà Nội và Thánh Tâm.

Điều kiện kinh tế của anh chị em cũng khá giả hơn, ngoài các xứ thuần nông như Lai Ổn, Đông Vinh… anh chị em Hố Nai chủ yếu làm thủ công nghiệp hoặc kỹ nghệ như chế tác gỗ, làm bánh đa, làm nhang, dệt chiếu… hoặc buôn bán. Chính vì thế, từ trước 1975, khu vực Hố Nai đã xuất hiện những dãy nhà bê tông vững chãi khang trang, cùng hàng quán tấp nập, nhất là tại xứ Ngọc Đồng có chợ Thái Bình sầm uất nhất nhì, cùng cạnh tranh với chợ Sặt của anh chị em gốc Kẻ Sặt, Hải Dương.

Tiếp nối công việc bác ái xã hội những đấng bậc tại Thái Bình, ngay từ khi nhận nhiệm sở Ngọc Đồng, cha xứ Văn Côi Ngọc Đồng Giuse Phạm Đức Sự O.P. (nguyên chánh xứ Hưng Yên, Bắc Việt) đã thiết lập cơ sở đón nhận những người nhỏ bé, thiếu thốn trong xã hội, không phân biệt lương giáo, được gọi là Viện Bác

Ái. Công trình này gồm nhiều dãy nhà gạch dài từ 20 đến 30 thước, đón nhận được khoảng 300 người. Tại đây, các anh chị em được phát thuốc, chữa trị và học nghề để mưu sinh. Viện Bác Ái đã được vinh dự đón tiếp nhiều đấng bậc vị vọng trong Giáo hội và Xã hội. Hiện nay, trung tâm này được Nhà nước tiếp quản và trở thành Trung tâm Công tác Xã hội tỉnh Đồng Nai.

Hố Nai được biết đến là quê hương thứ hai của Đức Cha Phêrô Trần Đình Tứ, nguyên giám mục giáo phận Phú Cường, vì Người thuộc xứ Hà Nội Hố Nai, có đồng hương Thuần Túy đông đảo, và là nghĩa tử cha cố Đaminh Phạm Hữu Tư chánh xứ Ngũ Phúc.

ÔNG TẠ – SAIGON

giao-xu-cat-noi

Nhà thờ Nghĩa Hòa Ông Tạ, gốc Nghĩa Chính.

Khác với hai vùng định cư kể trên là do Chánh phủ lập, vùng Ông Tạ là địa điểm định cư tự túc do các cha dẫn đến ở tại đất địa phương, khởi đi từ nhóm giáo dân Cổ Việt do cha Đaminh Vũ Đức Triêm dẫn đầu đến ở tại ngã ba Ông Tạ vào tháng 08/1954, thành lập nên giáo xứ Nam Thái. Sau này cha cố Đaminh đã chuyển về

Bảy Hiền mà lập xứ Tân Việt cho rộng rãi hơn. với ba giáo xứ gốc Thái Bình là Nghĩa Hòa (đa phần gốc Nghĩa Chính), Tân Chí Linh (đa phần gốc Tần Nhẫn và Trần Xá), Tân Việt (đa phần gốc Cổ Việt, Bồng Tiên, Vĩnh Phúc, Bắc Trạch, Đồng Quan, Trà Vy, Lạc Đạo, Đông Khê, Trình Nhì, Tân Mỹ, Thọ Lộc…). Tuy nhiên, vì Ông Tạ là vùng đất cởi mở, nên quê quán đồng hương không quá nặng nề, thậm chí đón nhận

nhiều gia đình miền Trung, miền Nam đến ở trong các xứ người Bắc, hay một xứ đạo Miền Nam trong vùng này là họ đạo Chí Hòa có nhiều gia đình Bắc đến ở. Đây là khu vực định cư có đời sống kinh tế khá giả, trình độ văn hóa cao, có tư duy chính trị độc lập. Lại vì ven trung tâm Đô Thành Saigon, nên Ông Tạ là nơi định cư và làm việc của nhiều quân nhân, trí thức, nghệ sĩ thời danh…

CÁI SẮN – KIÊN GIANG

Cách riêng, phải nói đến dinh điền Cái Sắn được thành lập năm 1956 với hệ thống kênh đào thẳng tắp, mỗi hộ có được đất thổ cư và đất canh tác sau nhà, cùng được hỗ trợ hạt giống và nông cụ, nên đã thu hút nhiều cộng đoàn di cư, từ đó, hình thành nên các xứ gốc Thái Bình, chủ yếu ở hai kênh B và Rivera, như sau:

  • Xứ Thái Hòa Rivera di chuyển từ Hố Nai (1956), gốc Tràng Quan.
  • Xứ Ninh Cù Rivera di chuyển từ Tân Lập (1956), gốc Ninh Cù, Xá Thị, Tô Hồ, An Bài, Bích Du, Các Đông, Sơn Thọ.
  • Xứ Thái An Rivera (Bình Nam) di chuyển từ Bà Nhã, Tây Ninh, gốc Nam Lỗ.
  • Xứ Vạn Đồn kinh B1 di chuyển từ Lạc An, gốc Vạn Đồn.
  • Xứ Thánh Tâm kinh B2 di chuyển từ Thường Long, Biên Hòa, gốc Sa Cát, Trà Vy, Nam Lỗ, Thượng Phúc.

Phần lớn giáo dân trong vùng làm nghề nông, một số làm thủ công nghiệp. Đời sống của giáo dân vẫn còn mang đậm truyền thống xứ họ ngoài Bắc, nên đời sống đạo tại đây tương đối ổn định. Cái Sắn từ lâu được biết đến là nơi sản sinh ơn gọi cho cho giáo hội địa phương là giáo phận Long Xuyên và nhiều giáo phận, dòng tu trong nước cũng như hải ngoại.

Và còn nhiều xứ gốc Thái Bình thời danh khác như Thái Bình (Xóm Mới), Tân Lập, Mỹ Hòa, Cao Thái, Long Bình, Thái Lạc, Thái Xuân, Bảo Thị, Duyên Lãng…

Tổ chức linh mục và chủng sinh gốc Thái Bình tại Miền Nam

Sau khi Đức Cha Santos Ubierna Ninh qua đời, để có người lãnh đạo địa phận Thái Bình di cư, các cha đã tạm thời bầu cha Đaminh Vũ Bội Quỳnh, chánh xứ Mỹ Hòa, Bình Trưng (nguyên chánh xứ Xuân Hòa, địa phận Thái Bình) làm cha chính lâm thời. Dù chỉ trong thời gian ngắn, nhưng ngài đã điều hành xuất

sắc công việc của địa phận tại Miền Nam. Trong đó, theo biểu quyết của các cha di cư, ngài đã bổ nhiệm cha Phêrô Nguyễn Minh Đăng làm phụ trách Văn phòng Cha Chính (Trụ sở Thái Bình Miền Nam), cha Giuse Vũ Khoa Cử làm Bề trên Thầy giảng Thái Bình, cha Micae Hoàng Đức Tụng làm Bề trên Nữ tu Thái Bình. Sau này phần lớn các dì nữ tu Thái Bình được sáp nhập vào Hội dòng nữ Đaminh Thánh Tâm hoặc Hội dòng nữ Đaminh Rôsa Lima miền Mẹ Vô Nhiễm.

giao-xu-cat-noi

Bản sao biên bản cuộc họp các cha Thái Bình di cư tại Mỹ Hòa ngày 06/07/1955.

giao-xu-cat-noi Đến ngày 13.08.1955, cha nhiếp chính Đaminh Đinh Đức Trụ đã bổ nhiệm cha Đaminh Cao Xuân Túc làm cha chính Địa phận Thái Bình Miền Nam. Tin này đã được Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, đặc trách

đồng bào di cư, công bố ngày 26.08.1955. Khi nhậm chức, cha chính Đaminh đã lo các việc xử lý của Thái Bình Miền Nam. Năm 1957, cha Phêrô Nguyễn Minh Đăng xin theo ơn gọi Dòng Đồng Công, nên cha chính Đaminh đã đặt cha Thomas Trần Lê Vinh, chánh xứ Ngọc Đồng, làm quản lý Trụ sở Thái Bình. Năm 1968, cha Thomas được bổ nhiệm làm chánh xứ Hàng Xanh, cha Giuse Maria Đinh Cao Tùng từ trường Nguyễn Duy Khang được bổ nhiệm về làm quản lý Trụ sở đến năm 1976.

Tiếp đến, ngài gửi các cha đi du học nước ngoài tại các nước Pháp, Rôma và Thụy Sỹ. Thật vậy, vào thời điểm địa phận Thái Bình được thành lập, chỉ duy nhất cha Giuse Maria Lê Quang Oánh, quê Thọ Cách, được cử

đi du học Rôma, song đó là trước khi địa phận Thái Bình được thành lập. Ngài lần lượt gửi các cha đi du học như cha Việt Anh (Thụy Sỹ), Trinh Cát (Pháp), Lương Hoàng Kim (Pháp), Bùi Tuần (Rôma), Trần Tam Tỉnh (Rôma) và hai chủng sinh Lê Trung Thành (Hinh) và Nguyễn Đức Thiêm du học Rôma và chịu chức ngày 29/06/1959 tại Genova.

Về hàng chủng sinh học tại Tiểu Chủng viện Phan Rang, ngài đã gửi các chú đã học xong lớp Đệ tứ (tức lớp 9 hiện nay) lên học tại các Tiểu Chủng viện Thánh Phanxicỗ Xaviê Bùi Chu tại 1B Bùi Chu, Saigon, Tiểu Chủng viện Piô XII Hà Nội 223 Nguyễn Tri Phương, Cholon, và Tiểu Chủng viện Phaolô Phát Diệm, 289 Võ Di Nguy, Phú Nhuận.

Đến năm 1961, sau khi thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Tòa Thánh và Hội đồng Giám mục Nam Việt Nam đã quyết định dứt điểm vấn đề linh mục di cư. Theo đó, các linh mục, đại chủng sinh di cư đang phục vụ tại xứ họ nào trong địa phận Miền Nam hoặc đang du học nước ngoài, thì sẽ phải nhập linh mục đoàn của địa phận Miền Nam, cũng như chấm dứt thẩm quyền Cha chính Địa phận Bắc Việt di cư (trích văn thư số 3923/61 đề ngày 26.10.1961 của Thánh Bộ Truyền giáo). Như thế, vai trò cha chính địa phận Thái Bình

di cư không còn hiệu lực nữa. Bản thân cha chính Đaminh Cao Xuân Túc nhập địa phận Saigon.

Tuy nhiên, trích văn thơ số 5454/61 đề ngày 27.11.1961 của Thánh Bộ Truyền giáo, các cơ sở Địa phận Bắc Việt sẽ thuộc quyền tài phán của đấng bản quyền địa phương Miền Nam, tức thuộc về Đức Tổng Giám mục Saigon (vì đa phần các cơ sở của các địa phận Bắc Việt nằm ở trên địa giới TGP. Saigon), song ngài sẽ phải đặt Ủy ban Quản trị Tài sản cho từng địa phận di cư để giao trọng trách quản lý sổ sách và bất động sản của các địa phận ấy và sẽ làm báo cáo thường niên nộp về cho Thánh Bộ Truyền giáo. Vì thế, Đức Tổng Phaolô Nguyễn Văn Bình đã thông báo văn thư này cho các cha di cư và để cho các đấng ấy bầu chọn thành viên trong địa phận cũ, khi xong sẽ trình cho Đức Tổng duyệt y và báo về cho Bộ Nội vụ.

Sau khi bầu chọn, các cha Thái Bình Miền Nam đã bầu chọn ra thành viên như sau:

Cha Đại diện Linh mục Thái Bình Miền Nam kiêm Chủ tịch Ủy ban: Đaminh Cao Xuân Túc.

Thành viên Ủy ban quản trị tài sản gồm quý cha:

  • Cha Đaminh Trịnh Đức Luyện, phó chủ tịch.
  • Cha Đaminh Đinh Huy Năng
  • Cha Đaminh Vũ Đức Triêm
  • Cha Giuse Đinh Tường Huấn
  • Cha Thomas Trần Lê Vinh, giám đốc trụ sở kiêm thủ quỹ.

Các cơ sở của địa phận Thái Bình Miền Nam:

  1. Trụ sở Thái Bình với Mẫu Tâm Thư Quán, in ấn và phát hành các sách đạo: 95 Nguyễn Văn Lạc, Thị Nghè.
  2. Trường Trung học Nguyễn Duy Khang và Trụ sở Thầy giảng Thái Bình: 93B Hùng Vương, Thị Nghè.
  3. Tiểu Chủng viện Thái Bình Phan Rang (mượn nhà xứ Tấn Tài) và Trường Trung học Trương Vĩnh Ký Phan Rang. Năm 1963, Chủng viện Thái Bình Phan Rang giải thể, và trường Trương Vĩnh Ký thuộc quyền tài phán địa phận Nha Trang.

Vậy, Ban Đại diện Các Linh mục Thái Bình Miền Nam đến nay đã trải qua chín đời cha Đại diện như sau:

  1. Cha Đaminh Cao Xuân Túc (1955-1963)
  2. Cha Đaminh Vũ Bội Quỳnh (1964-1968)
  3. Cha Đaminh Trần Ngọc Trác (1969-1972)
  4. Cha Vincentê Phạm Chí Thiện (1972-1978)
  5. Cha Thomas Trần Lê Vinh (1978-1985)
  6. Cha Luca Nguyễn Thanh Bình (1985-1993)
  7. Cha Giuse Vũ Minh Nghiệp (1993-2011)
  8. Cha Giuse Trần Đình Long (2011-2013)
  9. Cha Phêrô Nguyễn Quốc Túy (2016-2023)

Trước 1975, hàng linh mục địa phận Thái Bình Miền Nam cũng có những sinh hoạt tổ chức riêng, chia ra hai lớp: lớp các cha già chịu chức ngoài Bắc, và lớp các cha trẻ gốc Thái Bình, gọi là gia đình PAX, có tờ thông tin là Trà Lý.

Từ năm 1969 đến năm 1975, theo thông lệ, vào lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm quan thầy địa phận, các cha Thái Bình sẽ gặp mặt nhau và dâng lễ quan thầy tại một xứ gốc địa phận Thái Bình. Khởi đầu là lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm ngày 09/12/1969 tại giáo xứ Ngọc Đồng (Hố Nai).

Ngoài tổ chức Đồng hương Thái Bình Miền Nam, các cộng đoàn di cư cũng có những Hội Đồng hương riêng của mình tại Miền Nam. Sau năm 1975, các hội đồng hương này được phát triển sang tận hải ngoại.

giao-xu-cat-noi

Hiện tình Địa phận Thái Bình di cư.

Nguồn: Việt Nam Niên giám Công giáo 1964.

Liên lạc với địa phận mẹ Miền Bắc

Trước khi đất nước thống nhất, các cha gốc Thái Bình Miền Nam, dù đã nhập vào các địa phận Miền Nam và tận tâm phục vụ giáo hội địa phương, song các đấng bậc ấy luôn hướng về địa phận mẹ, về Đức Cha Đaminh Đinh Đức Trụ, song chỉ qua thư từ, điện tín và bưu phẩm.

Mãi đến năm 1983, trong khuôn khổ tham dự Đại hội Toàn quốc Những Người Công giáo Việt Nam Xây dựng và Bảo vệ Tổ quốc Bảo vệ Hòa Bình được tổ chức tại Hà Nội diễn ra 3 ngày 8, 9 và 10/11/1983, các cha gốc Thái Bình Miền Nam, khi ấy đã nhập vào các địa phận Miền Nam, và là đại biểu của các tỉnh phía Nam, đã được Ban Tổ chức Đại hội sắp xếp cho về Thái Bình thăm quê, thì đây là lúc sự liên hệ Bắc – Nam trực tiếp mới thực sự hiện diện. Sau Đại hội, Ban Tổ chức tạo điều kiện cho các đại biểu về thăm quê cũ. Quý cha đã có điều kiện về thăm lại giáo phận quê nhà và xem lại cảnh vật nơi xứ đạo mình. Cũng trong dịp này, Đức Cha Giuse Maria Đinh Bỉnh đã nhờ cha Đại diện Luca Nguyễn Thanh Bình giúp đỡ để nuôi 73 chú từ Miền Bắc vào Nam để học tập và dự tu.

Đến thời Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang, các chuyến viếng thăm Miền Nam và hải ngoại thường xuyên hơn. Từ đó, những cha và giáo dân đồng hương Thái Bình miền Nam và hải ngoại đã trở nên ân nhân đóng góp xây dựng giáo phận quê hương và xứ đạo gốc của mình nữa. Đức Cha Phanxicô cũng tiếp tục gửi các chú theo đuổi ơn gọi vào miền Nam học tập và nhờ các cha rèn dũa tu đức, chờ ngày ra Bắc để gia nhập chủng viện, và nhờ các dì Đaminh Rôsa Lima huấn luyện các dì phước Thái Bình để trở thành nữ tu có lời khấn, nhờ các dì Mến Thánh Giá Tân Lập và Tân Việt giúp đào tạo ơn gọi Mến Thánh Giá tại giáo phận và ra Bắc phục vụ.

Cùng với thời kỳ mở cửa của đất nước, nhiều linh mục, tu sĩ, bà con đồng hương Thái Bình Miền Nam đã về thăm quê hương xứ sở sau mấy chục năm xa cách, chưa kể đến những người con gốc Thái Bình nhưng sinh ra hoàn toàn ở trong Miền Nam hoặc hải ngoại, lần đầu tiên mới về lại nguyên quán.

giao-xu-cat-noi

Đức Cha Phanxicô Xaviê bên cha Giuse Maria Vũ Khoa Cử, Bề trên Tu đoàn Nhà Chúa (trái) và thầy già Đaminh Trần Minh Trị, nguyên Tổng Quản lý Trại định cư Lạc An.

giao-xu-cat-noi

Đức Cha Phanxicô Xaviê dâng lễ tại giáo xứ Thái Bình.

giao-xu-cat-noi

Đức Cha Phanxicô Xaviê thăm giáo xứ Mỹ Hòa.

Đến đời Đức Cha Phêrô, là một giám mục sinh trưởng và phục vụ trong Miền Nam, ngài tiếp tục duy trì việc liên lạc và chia sẻ với các linh mục tu sĩ gốc Thái Bình Miền Nam. Vì thế, trong những dịp đại lễ kỷ niệm thành lập Giáo phận, quý cha đồng hương Thái Bình Miền Nam cùng với Đức Cha Phêrô tổ chức Thánh lễ tạ ơn và hội ngộ đồng hương. Ngày 06/07/2011, Đức Cha Phêrô đã chủ sự Thánh lễ mừng 75 năm giáo phận và hội ngộ Đồng hương Thái Bình Miền Nam tại nhà thờ giáo xứ Tân Chí Linh, TGP. Saigon. Cùng hiện diện có hai Đức Cha gốc Thái Bình: Đức Cha Phú Cường Phêrô Trần Đình Tứ (Thuần Túy) và Đức Cha Phan Thiết Giuse Vũ Duy Thống (Cao Mộc), đông đảo quý cha trong giáo phận Thái Bình và quý cha, quý tu sĩ và anh chị em đồng hương Thái Bình Miền Nam. Trong Thánh lễ này có sự hiện diện của hai cha cố cao niên của Địa phận Thái Bình: cha Đaminh Đinh An Khang và cha Giuse Maria Đinh Bình Định. Đây cũng là dịp Đức Cha giới thiệu về công trình Nhà Chung Thái Bình cùng ngỏ lời với quý đồng hương xin được giúp đỡ, và việc chung này đã được sự hưởng ứng của quý cha, quý tu sĩ và anh chị em đồng hương.

giao-xu-cat-noi

giao-xu-cat-noi Thánh lễ Đồng hương Linh mục Thái Bình ngày 06/07/2011.

Linh mục Giuse Trần Đình Long, Đại diện các Linh mục Thái Bình Miền Nam, công bố Lời Chúa.

giao-xu-cat-noi

Đức Cha Phêrô đồng tế hai Đức Cha gốc Thái Bình: Đức Cha Phêrô Trần Đình Tứ và Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống.

giao-xu-cat-noi

giao-xu-cat-noi Quý cha đồng tế.

Quý cha trong giáo phận Thái Bình tham dự lễ Đồng hương Giáo phận Thái Bình Miền Nam.

Ngày 01/12/2016, Đức Cha Phêrô đã chủ sự Thánh lễ mừng 80 năm giáo phận và hội ngộ Đồng hương tại giáo xứ Tân Thái Sơn, TGP. Saigon. Cùng đồng tế có Đức Cha Phêrô Trần Đình Tứ, 40 Linh mục gốc Thái Bình Miền Nam. Trong dịp này, quý cha đã bầu ra những đại diện linh mục – tu sĩ gốc Thái Bình trong các giáo phận Miền Nam.

giao-xu-cat-noi

Thánh lễ Đồng hương Linh mục Thái Bình ngày 01/12/2016.

Ảnh: Vincent Xương Nguyễn.

giao-xu-cat-noi

Quý cha gốc Thái Bình tham dự lễ Đồng hương Giáo phận Thái Bình Miền Nam.

Ảnh: Vincent Xương Nguyễn.

Hiện nay, Đồng hương Thái Bình Miền Nam di cư phần nhiều làm ăn thành đạt, thành tựu vẻ vang, có

ích cho Hội Thánh địa phương và xã hội sở tại. Trong số đó, có những ân nhân là đồng hương di cư đã quảng đại đóng góp vào những công việc chung của giáo phận hay đóng góp trong việc xây dựng giáo xứ tổ tiên.

giao-xu-cat-noi

Đức Cha Đaminh Đặng Văn Cầu dâng Thánh lễ tại giáo xứ Võng Phan, giáo phận Phú Cường.

Ảnh: Trí Khải – BTT Giáo xứ Võng Phan.

Tuy nhiên, có một thực trạng đáng tiếc về đồng hương linh mục Thái Bình Miền Nam: đó là hội đồng hương linh mục Thái Bình Miền Nam, bao gồm các giáo dân Thái Bình di cư, dần đang lụi tàn. Bởi lẽ, những thế hệ di cư còn ký ức về Thái Bình nay đã về với Chúa gần hết, trong khi những thế hệ con cháu sinh trưởng trong Miền Nam gần như chỉ biết quê cha đất tổ qua

lời kể của ông bà cha mẹ, nên trong số họ không có ý niệm gắn bó với quê hương ngoài Bắc. Lại thêm những thế hệ sinh ra ở hải ngoại, vốn đã có rào cản về địa lý và ngôn ngữ, thì việc gắn bó ấy càng khó hơn nữa.

Chính vì thế, việc giáo dục cho con cháu biết về nguồn cội mình là điều cần thiết trong mỗi gia đình. Và điều ấy cũng nên được nói cho những gia đình di dân Thái Bình Miền Nam nữa.

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC A: DANH SÁCH NGÀY RA MẮT XỨ ĐOÀN THIẾU NHI THÁNH THỂ CỦA CÁC XỨ TRONG GIÁO PHẬN

(chưa đầy đủ)

STTTên xứTên xứ đoànNgày ra mắt
1.Đồng QuanGiuse Túc13/11/2011
2.Văn LăngAugustinô25/05/2014
3.Xuân HòaTêphanô Vinh22/06/2014
4.Châu NhaiPhaolô29/06/2014
5.Thượng PhúcAugustinô Mới13/07/2014
6.Thiên LộcTôma Đệ19/07/2014
7.Giáo LạcPhêrô Thuần26/07/2014
8.Dương CướcTêrêsa27/07/2014
9.Cao MạiThánh Tâm27/07/2014
10.Danh GiáoPhêrô Dũng29/07/2014
11.Bích DuGiuse Khang02/08/2014
12.Thanh ChâuĐaminh Saviô03/08/2014
13.Minh ĐứcTêrêsa04/08/2014
14.Sài QuấtĐaminh08/08/2014
15.An LậpĐaminh Úy09/08/2014
16.Hải LinhPhêrô Thuần10/08/2014
17.Ngọc ChâuGiuse Tuân14/08/2014
18.Tân MỹTôma Toán14/08/2014
19.Thân ThượngPhanxicô Assisi17/08/2014
20.Trung ĐồngGioan Phaolô II17/08/2014
21.Hàm TảiGiuse19/08/2014
22.Hữu TiệmGioakim24/08/2014
23.Chính TòaGiuse Khang07/09/2014
24.Quan CaoĐaminh07/09/2014
25.Bác TrạchLòng Chúa T. Xót09/09/2014
26.Ngọc ĐồngPhêrô Tuần23/11/2014
27.Hợp ChâuTêrêsa01/01/2015
28.Hưng YênGiuse Túc04/01/2015
29.Tiên ChuGiuse Viên12/04/2015
30.Tràng LũÂutinh Mới27/04/2015
31.Đan ChàngGioan Phaolô II24/05/2015
32.Cao XáGiuse Tuân30/05/2015
33.Vạn ĐồnĐaminh Úy14/07/2015
34.Đức NinhGioan Bosco15/07/2015
35.Gia LạcĐaminh Xuyên17/07/2015
36.An ChâuĐức Mẹ Camêlô16/07/2015
37.Võng PhanGiuse Túc31/07/2015
38.Vĩnh PhúcPhêrô Tuần02/08/2015
39.Lạc ThànhĐaminh Xuyên04/08/2015
40.Thái NộiThomas Khuông05/08/2015
41.Thuần TúyGiuse Túc06/08/2015
42.Sa CátĐaminh Xuyên07/08/2015
43.Lực ĐiềnPhêrô Tuần07/08/2015
44.Tây LàngPhêrô Dũng09/08/2015
45.Ngô XáPhêrô Thuần10/08/2015
46.Phương BồPhêrô Dũng10/08/2015
47.Hoàng XáGiuse Túc11/08/2015
48.Thục ThiệnĐaminh12/08/2015
49.Đông PhúCác Thánh Tử Đạo12/08/2015
50.Tần NhẫnMicae13/08/2015
51.Đông ThànhĐaminh Huyên14/08/2015
52.Nam BiênGioan14/08/2015
53.Đại ĐiềnPhêrô Dũng17/08/2015
54.Vân AmPhêrô Dũng19/08/2015
55.Hà XáĐaminh Mậu20/08/2015
56.An VỹVincentê21/08/2015
57.Trung ThànhTêphanô Vinh27/08/2015
58.Lai ỔnVinh Sơn Liêm07/09/2015
59.Đông APhaolô Đổng09/09/2015
60.Bạch LongTêrêsa01/10/2015
61.Bồng TiênAnê Lê Thị Thành27/10/2015
62.Lương ĐiềnPhêrô Thuần23/11/2015
63.Trà ViGiuse Khang06/12/2015
64.Thuận NghiệpVincentê07/08/2016
65.Phương MaiThomas Aquinô11/08/2016
66.Nghĩa ChínhGioan Phaolô II22/01/2017
67.An LạcGiuse Khang05/06/2017
68.Phú LạcĐaminh Mậu22/07/2017
69.Cam ChâuTêrêsa28/07/2017
70.Phú GiáoVincentê16/08/2017
71.Cao MộcAnrê Phú Yên20/08/2017
72.Tân HưngJustinô22/08/2017
73.Cát ĐàmĐaminh Xuyên26/11/2017
74.Nam TháiPhanxicô Xaviê03/12/2017
75.Hữu ViThomas Aquinô14/12/2017
76.Cao BìnhPhêrô01/02/2018
77.Duyên TụcThánh Tâm22/07/2018
78.Phục LễÂutinh Mới29/07/2018
79.Cổ ViệtThánh Thể05/08/2018
80.Duyên LãngPhanxicô Mậu09/08/2018
81.Mỹ ĐìnhTêrêsa25/10/2018
82.Chấp TrungĐaminh Saviô30/10/2018
83.Hạ LễPhaolô Đổng03/05/2019
84.Bơn LàngGiuse Viên24/08/2021
85.Minh ChâuGiuse Viên21/08/2022
86.Thọ SởGiuse Viên22/08/2022
87.Bích ĐôngGiuse Viên23/08/2022
88.Tràng QuanPhêrô Thuần04/09/2022
89.Lập TrạiGiuse Túc28/07/2023
90.Quỳnh LangTôma Toán28/07/2023
91.Khúc MaiFX. Mậu30/07/2023
92.Giáo NghĩaPhêrô Dũng03/08/2023
93.Thánh TâmĐaminh05/08/2023
94.Linh ChâuGiuse Khang11/08/2024
95.Vĩnh TràTêrêsa16/08/2024
96.Lạc ĐạoPhaolô15/09/2024
97.Đức NinhPhêrô Thuần08/06/2025
98.Luật TrungCarlo Acutis07/09/2025
99.Phú ĐồngMaria Goretti18/09/2025
100.Lãm KhêĐaminh Xuyên26/11/2025

DANH SÁCH CÁC XỨ “KẺ” TRONG ĐỊA PHẬN THÁI BÌNH

(chưa đầy đủ)

Một khía cạnh ít ai nhắc đến về sử ký giáo phận, đó là các xứ họ có tên Nôm. Đây là một thông tin quí trong việc nghiên cứu sử ký địa phận. Trong đó, xứ Kẻ Hệ (Ninh Cù), xứ Kẻ Riền (Duyên Lãng), xứ Kẻ Vân (Đan Chàng) là các xứ có thời gian được nhìn nhận là tên chính thức của giáo xứ. Trước đó thì có xứ Kẻ Mèn cũng được nhìn nhận là tên xứ chính thức, sau này thì tách thành xứ Trung Đồng và Đông Thành.

NômTên Chữ
BáiBồ Trang (Bồ Ngọc)
BầuTiên Chu
BặtThân Thượng
HớiXuân Hải
HệNinh Cù
LầyVực Đường (Lê Xá)
MènĐông Thành – Trung Đồng
MétCổ Việt
NeoBất Nạo
NứaKhuông Phù
ỔnLai Ổn
RèmTây Làng – An Lập
BơnVạn Ry (Bơn Làng)
RiềnDuyên Lãng
RuốngLực Điền
SiVĩnh Phúc
TừaTrần Xá
SổNam Lỗ
VânĐan Chàng

DANH SÁCH CÁC ĐẤNG TỬ ĐẠO LÀ GIÁO DÂN TRONG ĐỊA PHẬN THÁI BÌNH

(chưa đầy đủ)

Tiến trình hồ sơ phong chân phước cho các vị tử đạo địa phận Trung như sau:

Như đã trình bày ở trên, cuộc bách hại đời vua Tự Đức đã bắt đầu từ năm 1848, nhưng ban đầu còn chưa ngặt, nên gần như không xảy ra cuộc bách hại đẫm máu nào. Theo tài liệu của Tòa Thánh và Dòng Đaminh, chứng nhân tử đạo tiên khởi trong địa phận Dòng dưới thời vua Tự Đức là cha Giuse Trần Văn Trứ O.P., quê Tiên Chu, tử đạo vào tháng 06.1856. Về hiền phúc khả kính này, Đức cha Giuse Maria Diaz Sanjurjo, Đại diện Tông tòa Địa phận Trung, đã gửi một bức thư cho Thánh bộ Truyền giáo vào ngày 01.09.1856 về cuộc tử đạo của Người. Một tháng sau cuộc tử đạo của cha Trứ, Đức cha Diaz Sanjurjo An và Đức cha phó Garcia Sampedro Xuyên cũng đã gửi thư cho Thánh bộ theo cách thức tương tự về cái chết vinh hiển vì Danh Chúa của Người.

Sau đó, Đức cha An đã chịu trảm quyết vào ngày 20.07.1857. Một năm sau đó, Đức cha Xuyên cũng đã chịu tử đạo vinh hiển. Tiếp đó cũng có nhiều vị khác

lần lượt đổ máu vì Đức Tin. Về án tích tử đạo của hai Đức Cha cũng như của nhiều linh mục và thầy giảng khác, Đức Cha Valentin Berrio-Ochoa Vinh đã lập báo cáo chi tiết để gửi cho Thánh Bộ Truyền giáo. Hiện nay, chúng ta biết được còn 28 lá thư Đức Cha Vinh gửi cho Thánh bộ liên quan đến sự tử đạo của hai Đức Cha tiền nhiệm và nhiều vị khác.

Cuối năm 1861, Đức Cha Hermosilla Liêm và Đức Cha Berrio-Ochoa Vinh, cha Petro Almató Bình và thầy giảng Giuse Nguyễn Duy Khang đã chịu tử đạo tại Hải Dương, gây ra sự mất mát về nhân sự truyền giáo. Sau khi các đấng trên chịu tử đạo, trong địa phận Dòng không còn các thừa sai Tây nào ngoại trừ cha Gaspar Fernandez Nghĩa thuộc địa phận Đông và cha Emmanuel Riaño Hòa thuộc địa phận Trung. Trước đó, các thừa sai đã phải trốn sang Áo Môn để tránh việc tất cả cùng bị tiêu diệt một lúc và khiến xứ truyền giáo bị xóa sổ. Nhưng ngay sau khi ba đấng thừa sai kể trên đã tử đạo tại Hải Dương, Đức cha phó địa phận Đông Hilario Alcazar Hy và cha Emmanuel Estévez Nam, bất chấp cuộc bách hại khi nào đang đạt tới đỉnh điểm, đã trở về Đàng Ngoài. Vào những năm 1862 và các năm tiếp theo, các ngài đã gửi nhiều bức thư tường thuật lại các sự việc bách hại cho cả Thánh bộ lẫn các Đấng bề trên Dòng đang ở Rôma và Manila.

Đối với các hồ sơ các vị tử đạo do các Đức Cha kể trên báo cáo bằng thư từ gửi Thánh Bộ cùng các chứng cứ liên quan đã được chứng thực, vì các cuộc điều tra không thể thiết lập theo đúng quy chuẩn luật định do những khó khăn về thời gian, địa điểm và hoàn cảnh, nên theo lời thỉnh cầu của Tổng Cáo thỉnh viên (Postulator Generalis) Vincent Acquarone, ngày 21.01.1869, thông qua Đức Hồng Y Patrizi, Tổng Trưởng Thánh Bộ Lễ Nghi, Đức Giáo hoàng Piô IX đã ban đặc ân cho phép các tài liệu của cuộc điều tra thông thường sở tại được chấp thuận thay thế, và án tích của các hiền phúc này được tranh tụng tại phiên họp đặc biệt của Thánh bộ Nghi lễ, sau khi đã lắng nghe ý kiến bằng văn bản của Bảo hệ viên Pietro Minetti. Cũng phải nói thêm, vụ án Bốn Thánh Tử Đạo Hải Dương là một vụ án riêng biệt, có nhiều bằng chứng nhân đức và anh hùng, nên tiến trình diễn ra nhanh hơn, đến năm 1906 thì các vị ấy đã lên bậc Chân phước.

Lại sau khi nạn bắt đạo qua đi, là lúc các cuộc điều tra thông thường sở tại (do giám mục địa phận chủ trì) về án tích của các vị tử đạo tại các xứ các họ trong địa phận Trung được diễn ra, kể từ thời Đức Cha Barnabê Khang, bắt đầu từ khoảng 1864-1866. Phiên điều tra này không rõ hoàn thành lúc nào, chỉ biết rằng các hồ sơ này đã có mặt tại Rôma từ năm 1874, và đã được bổ

sung thêm các lời chứng của các nhân chứng trong địa phận Trung vào năm 1893-1894. Các lời chứng bổ sung này được Tòa Thánh rất hài lòng, đến mức có thể dùng thay thế cho cuộc điều tra cấp Tông tòa (do Tòa Thánh ủy quyền), vốn không thể thực hiện do điều kiện trắc trở địa lý.

Ngày 26.10.1916, một phiên họp của Thánh Bộ Lễ Nghi do Đức Hồng Y thuyết trình viên (Relator) Giovanni Cagliero chủ trì, đã đặt nghi vấn về việc xem xét từng trường hợp có xứng đáng được mở án phong Thánh bởi sự tử đạo do thù ghét đạo hay không. Việc trả lời được thực hiện bởi bảo hệ viên (Promotor Fidei) Angelo Mariani, trong đó, Người đưa ra những dẫn chứng và lập luận để đưa ra hồ sơ đó có nên được xem xét hay loại bỏ hay không.

Ngày 24.05.1917, một cuộc họp khác được diễn ra, biện hộ viên (Advocatus) Francisco Bersani trình bản danh sách xếp các vị Tôi tớ Chúa tử đạo thuộc ba địa phận Dòng (Đông, Trung, Bắc) theo bốn hạng, trong đó có 1296 hồ sơ được đề nghị xếp hạng nhất, 106 hồ sơ xếp hạng hai, 261 hồ sơ hạng ba được đề nghị hoãn vì chưa đủ các chứng cứ, riêng hơn 70 hồ sơ hạng tư bị đề nghị loại.

Sau khi lắng nghe ý kiến các bên, ngày 13.11.1917, Thánh Bộ Lễ Nghi ra sắc lệnh đồng ý mở hồ sơ phong

Thánh cho 1315 Tôi tớ Chúa, trong đó có 261 Tôi tớ Chúa thuộc hạng ba cần phải điều tra thêm, còn các Tôi tớ Chúa hạng tư bị loại bỏ. Sắc lệnh này đã được Đức Thánh Cha Bênêđictô XV châu phê ngày 14.11 cùng năm. Sau đó, khi đã xem xét kỹ lưỡng các Hồ sơ vụ án, và làm sáng tỏ những điểm nhầm lẫn cũng như trùng lặp, còn lại 1.288 vị tử đạo được giữ lại để tiếp tục đệ trình lên tiến trình phong chân phước.

Tòa Thánh cũng yêu cầu các địa phận tiếp tục tiến trình theo chỉ dẫn của Tòa Thánh đề ra trong các văn bản sau đó, và cả ba địa phận đã mau mắn tiến hành cách kỹ lưỡng, trong đó địa phận Trung đã tiến hành việc này trong khoảng thời gian 1919-1924. Tính thành sự của các tiến trình này đã được Thánh Bộ Lễ Nghi công nhận qua sắc lệnh ngày 05.06.1936, và đã tạo thành hồ sơ Positio dày năm tập.

Tuy nhiên, với số lượng hồ sơ khổng lồ, Tòa Thánh không thể tiến hành việc điều tra cho từng vị được, cho nên Tòa Thánh đề nghị Tỉnh Dòng Đa Minh Rất Thánh Mân Côi (nhà mẹ ở Avila) nên chọn ra ra 23 vị có độ khả tín cao hơn cả, cùng với hồ sơ hai Đức Cha An và Xuyên, để trình lên Thánh Bộ Lễ Nghi. Việc này được Trung ương Tỉnh Dòng nhất trí, nhưng do vấp phải sự phản đối của nhiều anh em trong Dòng cũng như trong các địa phận, nên các tiến trình bị tạm hoãn.

Sau cùng, năm 1946, khi cha Emmanuel Suarez đắc cử Bề trên Tỉnh Dòng, Người đã khuyên bảo mọi người nên đồng ý việc chia nhỏ hồ sơ ra, vì đó là cách duy nhất để có thể đưa các vị tử đạo trong hồ sơ đệ trình được tiến lên bậc Chân phước. Ngoài hai Đức Cha kể trên, 23 vị được đệ trình gồm: cha Đaminh Mậu O.P., cha Giuse Tuân O.P., cha Tôma Khuông T.O.P., cha Đaminh Cẩm T.O.P., 3 ông Quần Cống là ông Đaminh Án Khảm T.O.P., ông Giuse Cai Tả T.O.P., ông Luca Cai Thìn T.O.P., ông Laurensô Ngôn người Lục Thủy, ông Đaminh Ninh người Trung Linh, 6 ông Ngọc Cục là ông Đaminh Mạo, ông Đaminh Nguyên, ông Đaminh Nhi, ông Anrê Tường, ông Vincentê Tương, ông Phêrô Đa, ông Phaolô Đổng người Lê Xá, ông Giuse Túc người Hoàng Xá, 5 ông Kẻ Mèn là ông Vincentê Dương (Vincentê Thanh Minh), ông Đaminh Toại và ông Đaminh Huyên (Kính Danh Đông Thành), ông Phêrô Dũng và ông Phêrô Thuần (Phanxicô Xaviê Đông Phú).

Vì vậy, vào ngày 3 tháng 5 năm 1949, trước sự chủ tọa của Đức Hồng y Alexandro Verde, Thuyết trình viên của vụ án, Hội nghị Tiền Chuẩn bị (Antepraeparatoria) của Thánh Bộ Nghi Lễ đã được tổ chức, trong đó các Cha Cố vấn và các Vị Thừa hành cao cấp đã đưa ra phiếu biểu quyết của mình về việc liệu cuộc tử đạo và nguyên nhân tử đạo của các Tôi tớ

Chúa này đã được xác thực vững chắc hay chưa; tiếp sau đó, vào ngày 21 tháng 2 năm 1950, trong Hội nghị Chuẩn bị (Praeparatoria), sau khi nghe các giải trình về nghi vấn đó từ các Cha Cố vấn, các Đức Hồng y và Giám mục được bổ nhiệm đứng đầu Ban bảo vệ các Nghi lễ thánh đã quyết định tiến hành các bước tiếp theo.

Cuối cùng, trong cuộc họp Tổng hội (Generali) được tổ chức trước sự chủ tọa của Đức Thánh Cha Piô XII vào ngày 30.01.1951, lá phiếu của các Đức Hồng y, các vị Thừa hành cao cấp và các Cha Cố vấn đã được đệ trình; và vào ngày 11.02 cùng năm, Đức Thánh Cha đã tuyên bố: Đã rõ ràng về cuộc tử đạo và lý do tử đạo của hai Giám mục Giuse Maria Díaz Sanjurjo và Melchior García Sampedro cùng hai mươi ba Bạn tử đạo, đến mức – sau khi đã ban đặc ân miễn trừ các dấu chỉ hoặc phép lạ cũng như tất cả các đặc ân thích hợp và cần thiết khác – có thể tiến hành các bước tiếp theo ( Ita evidenter constare de martyrio et causa mortyrii Iosephi Mariae Diaz Sanjurjo et Melchioris García Sampedro Episcoporum et aliorum viginti trium Sociorum, ut, concessa a signis seu miraculis omnique alia opportuna et necessaria dispensatione, procedi possit ad ulteriora).

Để cuộc tranh nghị được hoàn thành, một cuộc thảo luận mới trong Tổng hội trước mặt Đức Thánh Cha

đã được thực hiện vào ngày 20.02.1951 về việc: sau khi đã công nhận sự tử đạo cùng miễn chuẩn phép lạ theo điều 2116 triệt 2, liệu có thể tiến hành cách an toàn (Tuto) đến việc phong Chân phước cho các Tôi tớ Chúa kể trên hay không; các Đức Hồng y, các Vị Thừa hành cao cấp và các Cha Cố vấn nhất trí bỏ phiếu thuận. Ngày 04.03.1951, Chúa Nhật Thứ IV Mùa Chay, Đức Thánh Cha Piô XII đã long trọng ban lời phán quyết: Có thể tiến hành cách an toàn (Tuto).

Ngày 29.04.1951, tại Quảng trường Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Piô XII đã long trọng tuyên phong 25 anh hùng tử đạo Việt Nam lên bậc Chân phước, trong đó có Á Thánh Đaminh Toại và Đaminh Huyên. Trong dịp này, có Đức Cha Santos Ubierna Ninh, giám mục địa phận Thái Bình, cha Francisco \urdo Trinh nguyên giám đốc Tiểu Chủng viện Mỹ Đức, đại diện cho địa phận Thái Bình đến tham dự đại lễ lịch sử này.

ĐỊA HẠT CAO XÁ

HỌ KÍNH DANH CAO XÁ gồm các đấng sau: thầy Đaminh Nghĩa quê Kẻ Sặt và thầy Đaminh Cẩn quê Ứng Mố bên Hải Dương giúp việc nhà chung Cao Xá, rồi đến các bổn đạo là Phanxicô Từ quê Mễ Sở, Đaminh Quán, Giuse Thép, Đaminh Đoàn, Đaminh Ngọc, Đaminh Khoai, Stêphanô Tịch, Đaminh

Nghi, Gioan Sán, Đaminh Thừa, Đaminh Túc, Đaminh Trương, Đaminh Đô, Đaminh Thép, Đaminh Côi, Đaminh Quang, Gioan Nga, Đaminh Súy, Đaminh Toàn, Đaminh Chương, Đaminh Tạo, Đaminh Thơm, Emmanuel Đăng, Phêrô Khuyến, Đaminh Quế, Đaminh Côn, Đaminh Giang, Đaminh Thủy, Đaminh Đàm, Gioan Cửu, Đaminh Thán, Đaminh Cao, Đaminh Thi, Giuse Khuyến, Đaminh Cúc, Đaminh Thọ, Đaminh Chuẩn, Đaminh Thuật, Đaminh Định, Đaminh Chuẩn, Phêrô Trưởng, Đaminh Hương, Đaminh Cáp, Đaminh Biên, Đaminh Đàm, Đaminh Chung, Maria Lam, Đaminh Mới.

HỌ ÔNG THÁNH GIOAN BAOTIXITA TRẦN XÁ gồm các đấng

sau: thầy Đaminh Nghĩa quê Trần Xá giúp việc nhà chung Cao Xá, Giêrônimô Bảo, Gioan Baotixita Bồ, Đaminh Sung, Đaminh Nhâm, Đaminh Thuộc, Phêrô Son, Đaminh Trưởng, Gioan Baotixita Chiên, Gioan Baotixta Oanh, Đaminh Thám, Đaminh Hưng, Phêrô Đảm, Gioan Baotixita Bảy, Gioan Baotixita Bá, Đaminh Khoa, Gioan Baotixita Tường, Đaminh Thế, Gioan Baotixita Mới, Gioan Baotixita Sĩ, Gioan Baotixita Anh, Phêrô Phang, Gioan Baotixita Luật, Gioan Baotixita Quát, Gioan Baotixita Trai, Gioan Baotixita Thuận, Gioan Baotixita Cáp, Gioan Baotixita Mạnh, Đaminh Thố, Đaminh Cơ, Đaminh Du, Gioan Baotixita Tùy, Gioan Baotixita Tranh, Gioan Baotixita Chiến, Gioan Baotixita Cửu, Phêrô Đạt, Đaminh Uy, Đaminh Đàm, Đaminh Quát, Rôsa Hạt.

HỌ BÀ THÁNH MARIA MAĐALÊNA ĐAN CHÀNG gồm các

đấng sau: Gioan Thu, Hyacintô Cao, Đaminh Nhân quê Kẻ Mốt, Đaminh Diên, Đaminh Cử, Đaminh Lộc.

HỌ ÔNG THÁNH TÔMA TÔNG ĐỒ VỰC ĐƯỜNG (nay là LÊ

XÁ), gồm Thánh Phaolô Đổng (Dương) và các đấng sau:

Phêrô Nha, Đaminh Cảnh, Đaminh Quỳ, Đaminh Đa, Đaminh Ba, Phêrô Khiên, Đaminh Bột, Đaminh Tàu, Đaminh Can.

HỌ ÔNG THÁNH ĐAMINH KHÊ THAN có đấng sau: Đaminh Phúc.

HỌ ÔNG THÁNH GIUSE THỌ LÃO có các đấng sau: Giuse Lưu, Giuse Nguyên, Giuse Thủy, Giuse Sùng, Giuse Tích.

HỌ ÔNG THÁNH GIÊRÔNIMÔ KHẢ DUY có các đấng sau: Đaminh Minh, Đaminh Hiếu.

HỌ ÔNG THÁNH GIOAKIM TRÀ BỒ (nay là PHƯƠNG BỒ) có

các đấng sau: Đaminh Hoán, Đaminh Thuần, Đaminh Chủng, Gioakim Đáng, Đaminh Sen.

HỌ TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MICAE TẦN TRANH (nay là

TẦN NHẪN) có các đấng sau: Đaminh Hiếu, Phêrô Cần.

HỌ ÔNG THÁNH PHAOLÔ THỔ CẦU có các đấng sau: Đaminh Đoàn, Đaminh Thuần, Laurensô Vũ.

HỌ ÔNG THÁNH PHÊRÔ BA ĐỘNG (nay là BÍCH ĐÔNG) có

đấng sau: Đaminh Cử.

HỌ MAI LỊNH là làng bên lương có các đấng sau: Luy Trinh, Đaminh Thơm.

HỌ CỘNG VŨ là làng bên lương có các đấng sau: Gioan Tín, Gioan Quán.

ĐỊA HẠT TIÊN CHU

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA TIÊN CHU có các đấng sau: thầy giảng Giuse Nguyên quê An Đạo, thầy Giuse Hiếu quê Kì Bố, thầy Đaminh Tú quê Viên Tiêu, thầy Phêrô Quế quê Trung Dân, thầy Đaminh Hiếu quê Rùa, Đaminh Phiên, Đaminh Toan, Đaminh Tạo, Gioakim Đô, Đaminh Khoa, Giuse Độ, Giuse Nho, Phêrô Quang, Gioan Lễ, Đaminh Oai, Phêrô Hạnh, Gioan Lăng, Gioan Tiên, Đaminh Ngọc, Đaminh Giễm, Giuse Thu, Đaminh Tích, Giuse Hoan, Đaminh Đô, Giuse Thọ, Maria Thủy. Giuse Kỷ, Maria Như, Phaolô Sùng, Phêrô Khinh, Đaminh Thu, Gioan Chiên, Đaminh Bốn, Giuse Hy, Đaminh Nghĩa, Đaminh Điệu, Maria Độ, Đaminh Tín.

HỌ ÔNG THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ PHÚ XÁ có các đấng sau:

Đaminh Hòa, Đaminh Thường, Đaminh Viên, Giuse Di.

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA HÀ XÁ có các đấng sau: Đaminh Vi, Phêrô Trung.

HỌ ÔNG THÁNH VINCENTÊ VÕNG PHAN có đấng sau: Đaminh Phiếm.

HỌ TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MICAE ĐIỀM XÁ có đấng sau:

Đaminh Phiếm.

HỌ ÔNG THÁNH TÔMASÔ TIẾN SĨ KHUÔNG PHÙ có đấng sau:

Phêrô Cảnh.

HỌ ÔNG THÁNH PHÊRÔ THỤY LÔI có các đấng sau: Đaminh Tiến, Đaminh Khuông, Đaminh Uyên, Gioan Liên.

HỌ ÔNG THÁNH GIUSE TIỂU THÔN (HÔM) có các đấng sau:

Giuse Nhân, Giuse Tị, Giuse Lường, Giuse Ba, Gioan Can, Maria Đỏ.

HỌ ÔNG THÁNH GIOAKIM TIỂU THÔN có các đấng sau: Phaolô Chinh, Giuse Trạch, Phêrô Nga, Rôsa Trân, Maria Đô.

HỌ SINH NHẬT ĐỨC BÀ VIÊN TIÊU có các đấng sau: Đaminh Dương, Đaminh Vân, Đaminh Lãnh, Rosa Gãy, Đaminh Túc, Đaminh Truật, Đaminh Lạc, Maria Đậu, Đaminh Thuần.

HỌ THÁNH ĐAMINH NAM HÒA (nay là họ HƯNG YÊN) có các đấng sau: Giuse Quế, Phêrô Huân, Phêrô Được, Vincentê Đoàn, Đaminh Chấn, Giuse Quỳ.

HỌ BẢO CHÂU là làng bên lương có đấng sau: Gioan Bản.

ĐỊA HẠT NGỌC ĐƯỜNG

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA NGỌC ĐƯỜNG có các đấng sau: Stêphanô Tuyết quê Cống Hiền tỉnh Hải Dương, Đaminh Nghĩa, Đaminh Quang, Phêrô Mầu, Đaminh Đàm, Giuse Uynh, Đaminh Vượng, Maria Hiên, Đaminh Tỏ, Anrê Khoản, Đaminh Quynh, Phêrô Côn, Đaminh Biên, Đaminh Đệ, Phêrô Việt, Đaminh Đường, Đaminh Vàng, Đaminh Mĩ, Đaminh Quỳnh, Đaminh Hạnh, Đaminh Tít, Đaminh Hoàn, Đaminh Bâm, Phêrô Sản, Phêrô Phương, ông Quán quê Phú Cách, Đaminh Tựa, Đaminh Vinh, Đaminh Bộ, Đaminh Độ, Maria Trí, Đaminh Dinh.

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA HOÀNG XÁ có Thánh Giuse Túc và các đấng sau: Phêrô Chóp, Đaminh Tiến, Phêrô Kiên, Phêrô Lương, Đaminh Sâm, Phêrô Ngắm, Phêrô Đồng, Maria Vi.

HỌ SINH NHẬT ĐỨC BÀ THANH CÙ có các đấng sau: Maria Huệ, Đaminh Bường, Đaminh Xứ.

HỌ ÔNG THÁNH GIUSE NHO LÂM (nay là HẠNH LÂM) có các

đấng sau: Giuse Bân, Maria Thắm.

HỌ ÔNG THÁNH GIOAN BAOTIXITA VĨNH ĐỒNG (nay là

VĨNH PHÚC) có các đấng sau: Gioan Cường, Phêrô Trực, Giuse Đạo, Giuse Trinh, Giuse Vân, Phêrô Bột, Giuse Huệ, Giuse Tri, Đaminh Ép, Giuse Ứng, Đaminh Xa, Giuse Thảo.

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA TRUNG CHÂU có các đấng sau: Phanxicô Tĩnh, Giuse Dịu, Phanxicô Sĩ, Phêrô Soi, Anna Trúc, Ông Khuông cùng hai trẻ.

HỌ ÔNG THÁNH GIUSE NINH TẬP có các đấng sau: Giuse Đức, Phêrô Quí, Anê Thinh, Maria Tiếng, Giuse Thúy.

HỌ ÔNG THÁNH ĐAMINH SÀI QUẤT có các đấng sau: Gioan Kênh, Đaminh Chiêu, trẻ Anna Khoản, trẻ Đaminh La, hai trẻ sinh đôi con ông Đaminh Đoan và bà Maria Quang.

HỌ ÔNG THÁNH GIOAKIM SÀI THỊ có các đấng sau: Đaminh Kiểng, Phêrô Kèo, Đaminh Lộc, Đaminh Bát, Đaminh Đề.

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA NGÔ XÁ có các đấng sau: Đaminh Lộc, Phanxica Cẩm, Maria Khiên, Maria Độ, Đaminh Độ, trẻ Anna Nhu, trẻ Maria Đỏ, trẻ Phêrô Dậu, trẻ Đaminh Đoan, trẻ Maria Mừng.

HỌ ÔNG THÁNH PHÊRÔ Kfi CHÂU có đấng sau: Maria Liên.

HỌ ÔNG THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ LƯƠNG HỘI có các đấng

sau: Phêrô Tửu, Đaminh Cử, Phêrô Tít, trẻ Độ, trẻ Đaminh Tào, trẻ Đaminh Bách.

HỌ MẠN TRÙ là làng bên lương có đấng sau: Giuse Mầu.

HỌ QUAN XUYÊN là làng bên lương có đấng sau: Maria Vạn.

ĐỊA HẠT CỔ VIfiT

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA CỔ VIfiT có các đấng sau: thầy Đaminh Lễ quê Cao Xá và thầy Gioan Thanh quê Quỹ Vượt ở nhà chung Cổ Việt và các bổn đạo là Phêrô Thiện, Phêrô Thuận, Gioan Huyên.

HỌ SĂNG TY CỔ VIfiT có đấng sau: Phêrô Nga.

HỌ KÍNH DANH CỔ VIfiT có đấng sau: Phêrô Thắng.

HỌ LẠC ĐẠO là làng bên lương có các đấng sau: Đaminh Tin, Đaminh Quế, Đaminh Vân, Luy Đôn.

HỌ ĐỨC BÀ DÂNG CON BỒNG TIÊN có các đấng sau: Giacôbê Trứ, Phêrô Tân, Đaminh Thuyên, Đaminh Tước, Đaminh Bôn.

HỌ ĐỘI TRẠCH (nay là AN BÌNH) có đấng sau: Đaminh Tân.

HỌ ĐỨC BÀ TRUYỀN TIN HỘI KHÊ có đấng sau: Đaminh Tình.

HỌ ĐỨC BÀ LÊN TRỜI TRẠI GẠO có các đấng sau: Phêrô Nhâm, Đaminh Quí, Đaminh Phương.

HỌ ĐỨC BÀ DÂNG CON BỒNG TIÊN có các đấng sau: Giacôbê Trứ, Phêrô Tân, Đaminh Thuyên, Đaminh Tước, Đaminh Bốn.

HỌ ÔNG THÁNH PHÊRÔ BỒNG TIÊN (nay là ĐÔNG A) có các

đấng sau: Đaminh Thiều, Đaminh Nghiên, Đaminh Kỷ.

HỌ ĐỨC BÀ BẢY SỰ BỒNG TIÊN (nay là TRUNG THÀNH) có

đấng sau: Giuse Tích.

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA HOÀNG XÁ có các đấng sau: Vincentê Quyền, Vincentê Bút.

HỌ KÍNH DANH LUẬT NỘI có đấng sau: Đaminh Đội.

ĐỊA HẠT KẺ DIỀN

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA KẺ DIỀN có các đấng sau: Gioan Thọ, Đaminh Luật, Phêrô Ngọ, Đaminh Chinh, Đaminh Liêm, Đaminh Duyên, Đaminh Quý, Đaminh Còn, Đaminh Quang, Đaminh Nghiêm, Đaminh Hòa.

HỌ KÍNH DANH THƯỢNG HỘ có các đấng sau: Đaminh Huynh, Đaminh Yên, Đaminh Trinh, Đaminh Hưng, Đaminh Sơn, Đaminh Dương, Đaminh Phang, Đaminh Thi, Đaminh Hanh.

HỌ ĐỨC BÀ THƯỢNG HỘ có đấng sau: Đaminh Hán.

HỌ TRÁI TIM ĐỨC BÀ THỌ LỘC có các đấng sau: Đaminh Quyền.

HỌ ÔNG THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ ĐỐNG CAO có các đấng

sau: Phêrô Liêm, Phaolô Đạo, Phaolô Sự.

HỌ TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MICAE THẮNG CỰU (nay là

NGHĨA CHÍNH) có các đấng sau: Đaminh Cửu, Giuse Tuyên, Đaminh Thụy.

HỌ ÔNG THÁNH ĐAMINH THƯỢNG LẠC (nay là PHÚ LẠC)

có các đấng sau: Đaminh Thể, Đaminh Hậu.

HỌ ĐỨC BÀ LÊN GIỜI TIỀN MÔN (nay là AN LẬP) có đấng

sau: Đaminh Yên.

HỌ ĐỨC BÀ TRUYỀN TIN TÂY LÀNG có các đấng sau: Đaminh Lập, Đaminh Tích.

HỌ KÍNH DANH ĐỨC BÀ BƠN LÀNG có đấng sau: Đaminh Xứng.

HỌ ÔNG THÁNH GIOAN BAOTIXITA BƠN TRẠI có đấng sau:

Phêrô Tá.

HỌ ĐỨC BÀ BẢY SỰ PHƯƠNG CÁP (nay là TÂN MỸ) có các

đấng sau: Đaminh Triển, Đaminh Một, Đaminh Thược, Đaminh Phương, Đaminh An, Đaminh Đàn, Đaminh Vũ, Phêrô Mạo, Đaminh Ưu, Đaminh Hứa.

ĐỊA HẠT SA CÁT

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA NAM LỖ có các đấng sau: Đaminh Diên, Vincentê Quỳnh, Phêrô Đán, Đaminh Đề, Phêrô Quân.

HỌ ĐỨC BÀ LÊN TRỜI SA CÁT có đấng sau: Đaminh Chiêng, Đaminh Thừa.

HỌ SINH NHẬT ĐỨC BÀ TRỌNG QUAN (nay là TRÀNG QUAN)

có đấng sau: Đaminh Mây.

HỌ CỔ CỐC là làng lương có đấng sau: Đaminh Hiếu.

HỌ CỔ KHÚC có đấng sau: Đaminh Khang.

HỌ LŨ ĐĂNG có đấng sau: Đaminh Di, Đaminh Nghiêm, Đaminh Huệ, Đaminh Phương.

ĐỊA HẠT LAI ỔN

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA ĐỒNG BẰNG có đấng sau: Đaminh Ban.

HỌ ÔNG THÁNH GIUSE VỌNG LỖ có đấng sau: Phêrô Chúc, Phêrô Chắc.

HỌ TRUNG CHÂU có đấng sau: Đaminh Bảo.

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA HÀ LANG (nay là QUỲNH LANG) có các

đấng sau: Phêrô Thiện, Gioan Thắng.

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA BÁI TÂY (nay là BỒ NGỌC) có các đấng sau: Phêrô Nguyên, Phêrô Cao, Đaminh Trác, Phêrô Thiện, Đaminh Lung, Gioan Phú, Phêrô Ba, Phêrô Tải, Phêrô Tâm, Đaminh Hội, Đaminh Lượng, Phêrô Bường, Phêrô Kiên là người mới trở lại đạo lấy vợ ở Bái.

HỌ KÍNH DANH BÁI ĐÔNG có các đấng sau: Đaminh Vũ, Đaminh Thu, Phêrô Bường.

HỌ ĐÔNG CHÂU có các đấng sau: Đaminh Tường, Giuse Huy, Maria Xuân.

HỌ ÔNG THÁNH PHÊRÔ ĐẠI NẪM có đấng sau: Đaminh Chất.

HỌ SĂNG TY PHỤC LỄ có các đấng sau: Phêrô Lập, Phêrô Sĩ.

HỌ ÔNG THÁNH VINCENTÊ NHÂN LÝ (nay là PHÚ GIÁO) có

đấng sau: Giuse Trưởng.

HỌ ĐỨC BÀ LÊN TRỜI NGỌC ĐÌNH (nay là MỸ ĐÌNH) có đấng

sau: Đaminh Liêu, Giuse Liên.

ĐỊA HẠT KẺ Hfi

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA KẺ Hfi có các đấng sau: cậu Đaminh Tín là học trò Nhà Đức Chúa Trời Kẻ Hệ, Đaminh Thảo, Đaminh Khanh, Đaminh Phong, Gioan Khôi, Đaminh Mãng, Đaminh Phan, Đaminh Khâm, Đaminh Tòng, Đaminh Nhu, Đaminh Chỉnh, Phêrô Lành, Đaminh Chương, Đaminh Bảo.

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA VẠN ĐỒN có các đấng sau: cậu Gioan Biên là học trò Nhà Đức Chúa Trời bị bắt tại đây, Micae Thục, Gioan Cử, Đaminh Độ, Inhaxiô Hương, Vincentê Đức, Micae Tường, Phanxicô Chúc, Micae Truật, Phanxicô Uy, Đaminh Mẹo, Phêrô Trí, Micae Luật, Phêrô Bằng, Phêrô Bảng, Phêrô Tịnh, Gioan Biên, Micae Huy, Đaminh Vinh, ông Bùi Trung Nôm.

HỌ VÂN AM có các đấng sau: Đaminh Bách, Phêrô Bảo, Phêrô Thược, Phêrô Quang.

HỌ QUẢNG NẠP có các đấng sau: Micae Thu.

HỌ XÁ THỊ có các đấng sau: Đaminh Thao, Giuse Bút, Đaminh Quang, Giuse Nhuận.

HỌ DIÊM HỘ có các đấng sau: Gioan Lưu, Phêrô Nam, Đaminh Cảnh.

HỌ DUYÊN TRỮ có các đấng sau: Đaminh Vũ, Đaminh Cẩm, Augustinô Huân.

HỌ ĐÔNG HỒ có các đấng sau: Phêrô Bảo, Phêrô Nhì, Bônaventura Ban.

HỌ BÌNH LÃNG có đấng sau: Gioan Toại.

HỌ THỌ CÁCH có đấng sau: Phêrô Cẩn.

HỌ THƯỢNG PHÚC có đấng sau: Đaminh Thiềng.

ĐỊA HẠT KẺ MÈN

HỌ ÔNG THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ ĐÔNG HÀO (nay là

ĐÔNG PHÚ) có hai đấng là ông Thánh Phêrô Dũng và Phêrô Thuần.

HỌ ÔNG THÁNH VINCENTÊ DOÃN TRUNG (nay là THANH

MINH) có ông Thánh Vincentê Dương và các đấng sau: Giuse

Biên, Giuse Thoan, Vincentê Tuyên, Vincentê Khuyến, Tôma Bính, Phêrô Xướng, Đaminh Văn, Vincentê Vinh.

HỌ ĐỨC BÀ TRUYỀN TIN CỒN XANH (nay là THANH CHÂU)

có các đấng sau: Phêrô Am, Giuse An, Giuse Tôn, Phaolô Dũng, Phêrô Đắc, Đaminh Dân.

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA ĐÔNG THÀNH có các đấng sau: Maria Từ, Giuse Sĩ, Gioan Cung, Đaminh Phương, Giuse Diệp, Đaminh Phan.

HỌ KÍNH DANH ĐÔNG THÀNH có hai ông Thánh Đaminh Huyên và Đaminh Toại và các đấng sau: Phêrô Hiếu, Đaminh Kiểm, Đaminh Vi, Phêrô Khang.

HỌ ĐỨC BÀ ĐEM CON THỤC THIfiN có các đấng sau: Inhaxiô Hộ, Đaminh Thôn, Đaminh Ứng, Đaminh Bôi, Đaminh Triệu, Đaminh Thắm.

HỌ THẤT SỰ ĐÔNG HÀO có đấng sau: Giuse Nguyên.

HỌ ÔNG THÁNH GIUSE DOÃN TRUNG (nay là KIM CHÂU) có

các đấng sau: Giuse Tăng, Giuse Viện, Giuse Mẫn.

HỌ ÔNG THÁNH PHÊRÔ DOÃN TRUNG có đấng sau: Đaminh Chiên.

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA DOÃN TRUNG (nay là TRUNG ĐỒNG có

hai cậu Nhà Đức Chúa Trời Kẻ Mèn là Đaminh Vinh, Đaminh Quang và bổn đạo là Đaminh Tâm.

HỌ ÔNG THÁNH GIOAN BAOTIXITA ĐỒNG AN có các đấng

sau: Gioan Chúc, Gioan Việt.

ĐỊA HẠT BÁC TRẠCH

HỌ ÔNG THÁNH JUAKINH HỮU TIfiM có các đấng sau: Gioakim Hào, Phêrô Cầu, Laurensô Hiền, Đaminh Trâm, Gioakim Tiệp, Phêrô Cẩn.

HỌ THẤT SỰ THƯỢNG NGHĨA (nay là GIÁO NGHĨA) có các

đấng sau: Phêrô Nghi, Phêrô Khuê, Bartôlômiêu Định, Phanxicô Thể.

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA THÂN THƯỢNG có các đấng sau: Giuse Sĩ, Đaminh Thục, Phêrô Khoa.

HỌ ĐỨC BÀ RÔSA CAO MẠI có các đấng sau: Phanxicô Kiên, Phêrô Cẩn, Phanxicô Nghiêm, Bartôlômiêu Bính, Phanxicô Thắng, Phanxicô Tri, Phanxicô Cấp, Gioakim Lai, Gioakim Thuận, Phanxicô Thỏa, Phêrô Chánh, Phanxicô Sang, Đaminh Nẫm, Đaminh Nhâm, Phanxicô Ngữ.

HỌ BÁC TRẠCH có đấng sau: Đaminh Trâm.

HỌ ÔNG THÁNH PHÊRÔ NHANG NGÁI (nay là họ XỨ SỞ xứ

Thân Thượng) có đấng sau: Phêrô Thuận.

HỌ ÔNG THÁNH GIUSE TRÀ VI có các đấng sau: Gioan Tín, Giuse Chương, Giuse Cảnh, Phanxicô Đán, Giuse Nẫm, Giuse Lương, Phêrô Báu, Giuse Nông, Marta Thọ, Anna Sáu.

ĐỊA HẠT CAO MỘC

HỌ CAO MỘC có đấng sau: Gioan Thắng. HỌ TÀO XÁ có đấng sau: Đaminh Chinh. HỌ RỒI CÔNG có đấng sau: Gioan Thìn.

HỌ PHƯƠNG XÁ có đấng sau: Đaminh Tào, Gioan Chiêng.

HỌ THUẦN TÚY có đấng sau: ông Lai.

Đây là danh sách các vị tử đạo có hồ sơ được lưu tại Tòa Thánh, bao gồm cả những vị đã được đệ trình lên Tòa Thánh nhưng đã bị loại ở cấp Tông Tòa. Các vị khác, hoặc không có tên, hoặc bị loại ở cấp Địa phận, sẽ không có tên trong này.

DANH SÁCH ǪUÝ CHA DÒNG ĐAMINH PHỤC VỤ ĐỊA PHẬN THÁI BÌNH TỪ 1936 CÙNG PHỤ THÊM CÁC CHA DÒNG ĐAMINH ǪUÊ HƯƠNG THÁI BÌNH ĐÃ KHẤN DÒNG TRƯỚC KHI THÀNH LẬP TỈNH DÒNG (TỨC TRƯỚC 1967)

Qúy danhSinh ngàyQuê quánKhấn dòngChịu chứcNgày mất
Juan Serra (Thiểu)1861Amer, Girona14.09.188218.03.189004.01.1941
Eustaquio García (Khiết)1868Villardondiego, Zamora09.09.188514.06.189212.12.1945
Eugenio Andres (Kiên)15.11.1873Aldeadávila de la Ribera, Salamanca22.07.1891189814.11.1937
José Sedano (Thái)22.06.1873Campino, Burgos16.12.1892190021.02.1946
Francisco Romon (Y)10.10.1885Carión de los Condes, Palencia04.10.190329.06.191002.08.1979
Luis Ferrnandez (Hòa)10.08.1885Murias, Aller08.12.190328.01.19111968
Juan Jimenez (Nhân)11.02.1887Padiernos, Avila03.09.190521.12.191203.11.1976
Alenjandro Gallego (Nam)25.02.1895Aldedávilla de la Ribera, Salamanca10.10.191219.01.191912.12.1974
Alexander Fernández (Báu)08.12.1892Casorvida, Óviedo06.01.191529.06.191502.01.1971
Pablo Lopez (Đức)25.01.1905Munogrande, Avila11.09.192102.10.192711.11.1984
Eugenio Gonzalez (Lâm)16.11.1899Murias, Aller09.09.191812.07.192531.03.1968
Teodoro Conde (Thập)11.09.1899Olmedo, Valladolid09.09.191812.07.192501.03.1988
Dominicano Alvarez (Cao)17.11.1899Santibanez de Tera, Zamora09.09.191812.07.192523.06.1987
Bernardo Llobera (Yên)28.02.1902Pollensa, Mallorca07.01.191913.06.192624.07.1975
Francisco Zurdo (Trinh)11.09.1902Villanueva de Azoague, Zamora22.08.191913.06.192616.08.1999
Faustino Rengel (Lễ)08.05.1905Canillas de Esgueva, Valladolid11.09.192129.01.192808.03.1983
Heraclio Aragon (Đức)27.09.1907San Mamés de Campos, Palencia03.08.192402.07.193103.10.1995
Adelfo de Celis (Tăng)29.08.1907Villanueva de Abajo, Palencia30.08.192502.08.193118.09.1991
Santiago Nuñez (Hạnh)30.09.1907La Mejorada, Olmedo, Valladolid03.08.192402.07.193112.02.1993
Antonio Fernández (Xuyên)13.06.1905Penetrudes de Morcín, Asturias09.09.192616.12.193412.10.1993
Teodoro González (Hiển)30.01.1911Murias, Aller15.09.192809.08.193610.01.2000
Thomas Labayen (Trung)07.03.1915Berastegui, Guipuzcoa25.09.193126.03.193825.06.1987
Ginés González (Thịnh)28.12.1915Barillos, León24.09.193314.06.194107.07.1975
Martin Alonso (Vượng)01.07.1916Lorenzana, Léon24.09.193314.06.194127.12.1955
Juan Rodriguez (Khoan)29.08.1917Morgovejo, Léon24.09.193314.06.194412.01.1997
Micae Nguyễn Khắc Tuần11.05.1914Vạn Đồn, Thái Bình31.08.193614.06.194117.03.1999
Gioan Baotixtia Trần Mục Đích28.11.1914Trần Xá, Hưng Yên08.12.193519.06.194313.02.1987
Giuse Phạm Đức Sự15.06.1916Kẻ Sặt, Hải Dương24.12.193719.09.194329.05.1991
Giêrônimô Phạm Quang Tự13.09.1917Bác Trạch, Thái Bình25.10.193803.06.194407.12.2007
Đaminh Trần Quang Hưng03.05.1919Cổ Khúc, Thái Bình25.10.193803.06.19441950
Tôma Nguyễn Duy Thể06.12.1914Tư Đa, Hải Dương22.08.193912.06.194604.01.1999
Giuse Nguyễn Văn Thông21.12.1916Thạch Bích, Hà Đông22.08.193904.08.194603.08.1994
Vincentê Nguyễn Hữu Dụ20.03.1920Thân Thượng, Thái Bình22.08.193912.06.194612.01.2009
Đaminh Đỗ Ngọc Bích05.01.1919Quần Phương, Bùi Chu19.09.193903.06.194411.11.1995
Vincentê Mai Cao Hiển10.08.1916Xuân Dục, Bùi Chu19.09.193919.06.194310.05.1973
Đaminh Vũ Đức Cương02.11.1918Đất Vượt, Bùi Chu28.08.194023.09.194430.01.1992
Phêrô Nguyễn Quang Hiến18.03.1919Hạ Bì, Bắc Giang29.08.194104.06.194806.02.2020
Phanxicô Xaviê Mai Bảo Thư11.12.1919Thường Lệ, Phúc Yên29.08.194104.06.194817.09.2002
Gioan Baotixita Nguyễn Văn Sâm06.02.1920Hạ Lôi, Phúc Yên29.08.194108.03.194821.06.2012
Phêrô Nguyễn Triền Miên01.01.1921Yên Lâm, Phát Diệm29.08.194108.03.194803.03.2002
Giuse Lưu Đức Mẫn18.06.1918Ngưỡng Nhân, Bùi Chu23.11.194122.09.194527.04.1993
Giuse Đoàn Thiệu15.02.1921Nam Trực, Bùi Chu23.11.194126.10.194626.04.1997
Angelô Nguyễn Ngọc Thụy02.10.1921Phú Hậu, Thái Bình10.10.194511.06.194931.07.1992
Andrê Đinh Dưỡng Thiệm28.11.1923Phú Nhai, Bùi Chu31.08.194511.06.194911.07.1993
Phêrô Nguyễn Doãn Quang14.11.1929Cảnh Lâm, Hưng Yên27.07.195206.07.195716.08.1988
Ignaciô Nguyễn Ngọc Rao12.11.1931Bích Du, Thái Bình27.07.195205.07.195826.02.2024
Giuse Trần Đức Hậu20.05.1934Thọ Lão, Hưng Yên25.09.195602.07.1961
Giuse Đinh Châu Trân15.05.1932Thức Hóa, Bùi Chu06.10.195921.04.196306.12.2022
Giuse Phạm Văn Tuynh13.12.1933Xá Thị, Thái Bình06.10.195921.04.1963
Giuse Nguyễn Ngọc Từ15.08.1934Vũ Xá, Hưng Yên03.08.196031.05.196406.04.2019
Đaminh Phạm Văn Bảo03.11.1939Ngọc Châu, Hưng Yên03.08.196001.06.1968
Vicentê Hà Viễn Lự20.03.1943Duyên Lãng, Thái Bình05.09.196130.04.1969
Tôma Trần Ngọc Túy26.02.1939Trung Hòa, Thái Bình05.09.196130.04.196909.06.2013
Đaminh Nguyễn Văn Thái15.10.1944Kim Châu, Thái Bình16.08.196508.08.1972
Gioan Baotxita Nguyễn Đăng Trực03.05.1947Trần Xá, Hưng Yên05.09.196604.08.1973

DANH SÁCH ǪUÝ CHA ĐỊA PHẬN THÁI BÌNH (2026)

Quí danhNgày sinhQuê quánTPLMĐang phục vụ
Hiêrônimô Nguyễn Phúc Hạnh01.11.1942Bác Trạch31.05.1965Bác Trạch (hưu)
Phêrô Chanel Nguyễn Kiêm Toàn08.12.1942Đông Thành29.01.1968Liên Thành (hưu)
Đaminh Đặng Văn Gia01.01.1942Giáo Nghĩa13.08.1972Giáo Nghĩa (hưu)
Giuse Vũ Công Phước04.10.1942Xuân Hòa13.08.1972Xuân Hòa (hưu)
Giuse Trần Xuân Chiêu14.05.1950An Châu16.10.1977TGM (hưu)
Giuse Nguyễn Tri Chúc03.08.1945Hai Giáp (Tràng Lũ)16.10.1977TGM (hưu)
Giuse Mai Trần Nga12.10.1949An Lập16.10.1977TGM (hưu)
Giuse Nguyễn Quang Phục01.05.1941An Lập16.10.1977TGM (hưu)
Gioan Baotixita Nguyễn Sơn Hải03.08.1943Thượng Thôn (Tràng Lũ)07.10.1981TGM (hưu)
Vincentê Mai Thành Sơn20.05.1953Giáo Lạc, Bùi Chu15.08.1988Gia Lạc
Giuse Trần Đức Hạnh19.03.1944Hữu Vi19.12.1989Gp. Lạng Sơn
Tôma Aquinô Đoàn Xuân Thỏa15.07.1945Phương Mai03.12.1994TGM (hưu)
Gioan Baotixita Đỗ Bá Dương12.10.1959Thái Nội09.03.1996Đan Chàng
Phanxicô Assisi Nguyễn Tiến Tám01.10.1952Hậu Trung09.03.1996Cao Mại (Tổng Đại Diện)
Phêrô Nguyễn Đình Tân24.05.1958Đồng Đức09.03.1996Việt Yên
Phêrô Đinh Văn Hùng05.01.1959Xuân Hòa04.12.2001Quỳnh Lang
Vincentê Vũ Văn Hướng12.09.1959An Lạc04.12.2001Bác Trạch (QH Bắc Tiền Hải)
Giuse Nguyễn Văn Kha14.09.1962An Lập04.12.2001Phương Mai
Đaminh Nguyễn Trung Lương S.D.D.27.07.1946Trung Thành (Thánh Tâm)04.12.2001Trung Đồng (hưu)
Đaminh Nguyễn Văn Quát28.10.1954Trung Đồng04.12.2001Thân Thượng (QH Kiến Xương)
Giuse Phạm Văn Thiện25.03.1964Tràng Quan04.12.2001Bồng Tiên
Augustinô Phạm Quang Tường09.08.1954Trung Đồng04.12.2001Lương Điền
Luca Nguyễn Văn Định15.07.1954Công Bồi03.12.2003Công Bồi
Đaminh Bùi Ngọc Hải24.11.1970Tràng Quan03.12.2003Minh Nghĩa
Augustinô Nguyễn Quang Huy03.12.1962Trung Đồng03.12.2003Cổ Việt
Đaminh Đào Trung Thành10.10.1950Phú Đồng03.12.2003Phú Đồng (hưu)
Đaminh Nguyễn Văn Thao01.02.1963Quỳnh Lang03.12.2003Quỳnh Lang (hưu)
Giuse Mai Văn Diện01.03.1972An Lập29.11.2005ĐCV Thánh Tâm (GĐ)
Hiêrônimô Nguyễn Ngọc Hinh22.05.1969Bác Trạch29.11.2005Bác Trạch (NB)
Giuse Đỗ Trọng Huy20.06.1971An Lập29.11.2005ĐCV Thánh Tâm
Đaminh Trịnh Văn Thục08.05.1972Xuân Hòa29.11.2005Lạc Đạo
Giuse Trần Văn Thực07.08.1974Trình Nhì29.11.2005Thọ Sở
Đaminh Nguyễn Văn Đạm08.09.1949Quan Cao22.02.2006Quan Cao (hưu)
Augustinô Nguyễn Văn Đề1947Lạc Thành22.02.2006Lạc Thành (hưu)
Phêrô Vêrôna Trần Duy Điển25.04.1945Nam Thái22.02.2006TGM (hưu)
Augustinô Phạm Văn Mùi1936Văn Lăng22.02.2006Văn Lăng (hưu)
Giuse Phạm Công Dũng16.08.1970Hoành Từ19.03.2007Thượng Phúc (QH Thái Thụy)
Gioakim Đặng Văn Hội10.12.1977Nguyệt Lãng04.08.2007ĐCV Thánh Tâm (Phó GĐ)
Giuse Đinh Xuân Ngọc01.05.1971Xuân Hòa04.08.2007Lê Xá
Giuse Trịnh Tiến Thành24.09.1970Trà Hồi04.08.2007Hưng Yên
Giuse Nguyễn Thuân05.09.1967Hoàng Xá04.08.2007Đông Khê
Đaminh Trương Văn Thụy12.03.1973Châu Nhai04.08.2007Đông Phú
Đaminh Trần Văn Thức10.06.1972Xuân Hòa04.08.2007Cao Xá (QH Đông Hưng Yên)
Đaminh Bùi Thế Truyền23.12.1974Thanh Châu04.08.2007Trung Đồng (QH Nam Tiền Hải)
Phêrô Vũ Khắc Năng27.10.1975Phương Xá27.11.2009ĐCV Thánh Tâm
Giuse Bùi Đình Nguyện01.10.1971Phục Lễ02.02.2010An Lập (QH Đông Hưng)
Vincentê Ngô Thái Phong05.05.1973Vinh Sơn02.02.2010Cát Trại
Đaminh Vũ Văn Thiêm16.09.1975Xuân Hòa02.02.2010Tân Mỹ
Giuse Nguyễn Hữu Tuân14.06.1976Tràng Quan02.02.2010Nam Thái
Gioan Chu Văn Yên28.08.1974Đồng Vân02.02.2010TGM (Chánh Văn phòng)
Gioakim Đặng Văn Diễn10.01.1975Nguyệt Lãng01.12.2011Bơn Làng
Giuse Mai Văn Duẩn24.03.1978Truyền Tin01.12.2011Tân Hưng
Vincentê Nguyễn Hòa15.01.1973Thân Thượng01.12.2011Phú Giáo
Augustinô Trần Thế Nhận04.07.1972Văn Lăng01.12.2011Thanh Châu
Vincentê Phạm Văn Sơn12.06.1972Thanh Minh01.12.2011Phương Quan
Đaminh Nguyễn Văn Thụ12.03.1975Xuân Hòa01.12.2011ĐCV Thánh Tâm
Đaminh Vũ Minh Trí15.12.1969Giáo Nghĩa01.12.2011Ngọc Đồng (QH Tây Hưng Yên)
Giuse Nguyễn Văn Tuyên19.02.1977Hà Nội (NQ: Bác Trạch)01.12.2011Chánh Tòa (QH Thành Phố)
Giuse Nguyễn Văn Giang18.03.1981Trà Vi24.06.2012ĐCV Thánh Tâm
Giuse Phạm Đình Tám07.12.1974Bắc Ninh04.08.2012Vạn Đồn
Antôn Nguyễn Văn Chuẩn20.08.1975Tân Hưng07.06.2013Dương Cước
Giuse Vũ Thanh Tuấn P.S.S.22.02.1980Sa Cát07.02.2014ĐCV Xuân Bích Huế
Đaminh Phạm Bá Hàn02.11.1940Phương Xá08.12.2014TGM (hưu)
Vincentê Trịnh Xuân Phong24.11.1947Xuân Hòa08.12.2014TGM (hưu)
Vincentê Trần Văn Hùng25.07.1954Thuận Nghiệp08.12.2014Nam Biên
Antôn Tô Duy Lâm05.06.1980Các Đông08.12.2014Ngọc Châu
Đaminh Đặng Hữu Nghị03.10.1975Lương Đống08.12.2014Giáo Lạc
Hiêrônimô Trần Văn Ngữ11.01.1960Bác Trạch08.12.2014Trà Vy
Đaminh Nguyễn Cao Phi (Thường)28.11.1961Thọ Lộc08.12.2014Lãm Khê
Đaminh Nguyễn Văn Vực10.03.1978Tây Làng08.12.2014Đông A
Đaminh Nguyễn Văn Bảng17.03.1975Trung Đồng01.01.2016Nam Lỗ
Giuse Phạm Đức Bình02.01.1960Saigon (NQ: Phương Trạch)01.01.2016Saigon (NB)
Giuse Phạm Văn Chức20.08.1973Hoàng Xá01.01.2016Quan Khê
Tôma Aquinô Trần Xuân Đại28.04.1970Hữu Vi01.01.2016Hạ Lễ
Đaminh Đặng Thái Phúc06.05.1976Giáo Nghĩa01.01.2016Hoàng Xá
Vincentê Đỗ Văn Hà10.08.1972Hậu Trung01.01.2016Vinh Sơn
Vincentê Nguyễn Văn Hoàng07.03.1945Lập Trại01.01.2016Nghỉ hưu
Phêrô Vêrôna Chu Duy Mạc29.01.1965Đồng Vân01.01.2016TGM (NB)
Giuse Mai Trần Minh20.08.1972An Lập01.01.2016Phục Lễ
Giuse Bùi Văn Phương09.01.1964Trại Gạo01.01.2016TGM (Quản lý GP)
Giuse Trần Thanh Tâm25.05.1974Hữu Vi01.01.2016Mỹ Đình
Giuse Trần Văn Thụ24.04.1977Trung Đồng01.01.2016Hữu Vi
Đaminh Phạm Thành Thạo20.08.1975Thanh Châu01.01.2016Bích Du
Vincentê Phạm Văn Thượng16.04.1975Thanh Minh01.01.2016Châu Nhai
Phanxicô Xaviê Đinh Văn Trí18.08.1965Đông Phú01.01.2016Giáo Nghĩa
Giuse Nguyễn Văn Triển01.03.1963An Lập01.01.2016Thục Thiện
Augustinô Đỗ Duy Đại06.02.1979Văn Lăng08.12.2016Hà Xá
Micae Nguyễn Văn Đô27.07.1982Điềm Xá08.12.2016Hải Linh
Antôn Nguyễn Văn Hiện01.02.1973Tân Hưng08.12.2016Bồ Ngọc
Vincentê Nguyễn Quốc Hoàn25.09.1981Hậu Trung08.12.2016Thái Nội
Giuse Trần Xuân Hùng (Hoạt)15.10.1974Quân Trạch08.12.2016Thanh Minh
Giuse Nguyễn Đình Huynh09.01.1979Thọ Cách08.12.2016Sa Cát
Phêrô Nguyễn Đình Lam02.08.1966Ban Mê Thuột08.12.2016TGM (NB)
Phêrô Nguyễn Hữu Phước10.09.1970Đồng Nai22.08.2016Võng Phan
Tôma Aquinô Trần Minh Điện03.05.1979Hữu Vi08.12.2017Xuân Hòa
Giuse Phạm Đức Thuấn08.04.1978Đông Châu08.12.2017Phương Xá
Đaminh Nguyễn Văn Bích21.05.1964Trung Đồng08.12.2018TTMV LCTX An Lạc
Giuse Mai Trần Diện24.10.1976Tây Làng08.12.2018Đông Thành
Giuse Đặng Phúc Hậu19.10.1979Truyền Tin08.12.2018Lạc Thành
Phêrô Trần Xuân Hiền19.10.1981Bồng Tiên08.12.2018Quan Cao
Giuse Dương Văn Hiếu06.02.1979Vọng Lỗ08.12.2018Bạch Long
Phêrô Nguyễn Văn Quỳ01.09.1953Thuần Túy08.12.2018Ninh Cù
Phêrô Vũ Hữu Thành08.07.1977Xuân Hòa08.12.2018ĐCV Thánh Tâm (Quản lý)
Phêrô Vêrôna Trần Duy Thể12.06.1977Nam Thái08.12.2018Đại Điền
Giuse Trần Xuân Ứng03.02.1980Bồng Tiên08.12.2018Chấp Trung
Phêrô Nguyễn Văn Bang20.10.1980Tân Mỹ07.12.2019Đức Ninh
Vincentê Nguyễn Minh Đoan11.04.1984An Lạc07.12.2019Du học
Phanxicô Xaviê Phạm Công Tiến10.09.1983Tràng Lũ07.12.2019An Châu
Đaminh Trần Xuân Trịnh25.07.1982Trung Đồng07.12.2019Duyên Tục
Đaminh Nguyễn Mạnh Trường13.12.1983Ngọc Châu07.12.2019Ngô Xá
Giuse Nguyễn Văn Vương02.09.1980Hoàng Hạ, Hưng Yên07.12.2019Đông Châu
Gioan Bt. Bùi Như Xành (Thượng)30.09.1980Cam Châu07.12.2019Thuận Nghiệp
Giuse Nguyễn Văn Bỉnh (Biên)13.08.1983An Lập08.12.2020Cam Châu
Giuse Vũ Văn Chiểu15.03.1983Trình Nhì08.12.2020Đồng Quan
Gioan Nguyễn Văn Cương16.10.1985An Lão08.12.2020Truyền Tin
Đaminh Nguyễn Văn Khoan (Du)04.03.1985Khúc Mai08.12.2020Nghĩa Chính
Vincentê Nguyễn Văn Đề20.11.1982An Lập08.12.2020Gia Lạc (phó)
Giuse Phạm Văn Điệp03.06.1978Hoàng Xá08.12.2020Nguyệt Lãng
Hiêrônimô Nguyễn Công Hiến21.11.1978Bác Trạch08.12.2020Thượng Điền
Gioan Baotixita Hoàng Văn Hồ02.08.1983Thái Nội08.12.2020Đan Chàng (phó)
Gioan Baotixita Đoàn Viết Hưởng25.01.1986Cam Châu08.12.2020Kính Danh
Phaolô Nguyễn Văn Liêm20.10.1980Phù Sa08.12.2020Học tại HVCG
Vincentê Nguyễn Thành Luân15.06.1986Hải Linh08.12.2020Tần Nhẫn
Đaminh Nguyễn Đàm Luận14.12.1986Ngọc Châu08.12.2020Phương Bồ
Phêrô Nguyễn Văn Luận08.05.1980Tân Mỹ08.12.2020Lai Ổn
Phêrô Vêrôna Phạm Văn Nhật11.07.1983Quảng Châu08.12.2020Trụ sở Thái Bình (GĐ)
Đaminh Trần Văn Nhượng15.08.1985Đông Châu08.12.2020Tây Làng
Giuse Hà Đăng Oánh26.02.1985Hà Xá08.12.2020Lộc Trung
Giuse Trần Văn Quyền17.10.1983Bạch Long08.12.2020TGM (đặc trách dự tu)
Giuse Phạm Cao Sang12.05.1982Hoàng Xá08.12.2020Bích Đông
Giuse Trần Xuân Thăng01.03.1986Bồng Tiên08.12.2020Trung Châu
Giuse Bùi Văn Thiểm13.01.1987Truyền Tin08.12.2020Song Hai
Giuse Phạm Văn Thỏa16.04.1984Minh Nghĩa08.12.2020Lập Trại
Vincentê Vũ Huy Thông29.12.1981An Lạc08.12.2020Hợp Châu
Gioan Nguyễn Văn Trình22.11.1982Thọ Sở08.12.2020Tràng Lũ
Vincentê Nguyễn Văn Tuân20.06.1987Lộc Trung08.12.2020Du học
Gioakim Phạm Văn Việt02.01.1987Hữu Tiệm08.12.2020Học tại HVCG
Augustinô Nguyễn Văn Hải10.05.1985Trung Đồng08.12.2021Tống Xuyên
Giuse Đinh Quang Hoan03.02.1989Đồng Bằng08.12.2021Du học
Đaminh Đỗ Văn Kiên05.06.1981Đồng Đức08.12.2021Du học
Giuse Trương Văn Long25.06.1988Hợp Châu08.12.2021Du học
Giuse Đỗ Cao Thế15.12.1979Thánh Thể, Bùi Chu08.12.2021Cao Bình
Giuse Mai Xuân Thị13.10.1981Truyền Tin08.12.2021Trung Thành
Giuse Mai Văn Tỉnh18.11.1981Hợp Châu08.12.2021Hàm Tải
Augustinô Nguyễn Văn Tuệ05.06.1983Trung Đồng08.12.2021Phú Lạc
Phêrô Nguyễn Văn Việt24.03.1980Cao Bình08.12.2021Danh Giáo
Giuse Bùi Văn Đình13.10.1973Trại Gạo08.12.2021TTMV LCTX
Giuse Tống Văn Thiện05.05.1979Phước Hưng, Bà Rịa08.12.2021TTMV LCTX
Hiêrônimô Vinc. Nguyễn Văn Anh10.11.1982Bác Trạch08.12.2022Cao Mộc
Gioan Đào Văn Chính16.02.1986Nam Biên08.12.2022Sài Quất
Micae Trương Văn Chính04.07.1988Minh Châu08.12.2022Văn Lăng
Vincentê Tạ Văn Đông31.08.1988Phú Đa, Hà Đông08.12.2022Thánh Tâm
Giuse Đậu Viết Đồng20.08.1984Hòa Mỹ, Hà Tĩnh08.12.2022TTMV LCTX
Phanxico Xaviê Bùi Công Hoan22.09.1990Cao Mại08.12.2022Tràng Quan
Tôma Aquinô Trần Công Hoàng25.12.1954Phương Mai08.12.2022Phó Chánh Tòa
Đaminh Đặng Văn Huynh15.10.1986Thánh Tâm08.12.2022Vĩnh Phúc
Vincentê Giang Văn Khiêm28.09.1986Hải Linh08.12.2022Lực Điền
Vincentê Trần Văn Khoa07.03.1988Thuận Nghiệp08.12.2022Minh Đức
Vincentê Nguyễn Văn Lãng23.03.1985Thượng Điền08.12.2022An Thái
Giuse Đàm Xuân Lịch02.03.1975An Lập08.12.2022Tân Châu
Vincentê Hoàng Văn Lộc10.05.1983Tây Làng08.12.2022Minh Châu
Gioakim Đặng Văn Quyết10.04.1985Nguyệt Lãng08.12.2022Thuần Túy
Giuse Bùi Văn Sinh29.08.1987Đông Thành08.12.2022Hữu Tiệm
Đaminh Trần Văn Tạ23.05.1989An Tập08.12.2022An Vỹ
Vincentê Trương Phúc Thành06.08.1988An Lập08.12.2022Linh Châu
Giuse Phạm Văn Thao10.12.1987Tràng Lũ08.12.2022Thụy Lôi
Giuse Augustinô Hoàng Văn Thụ15.01.1976Duyên Lãng08.12.2022Khúc Mai
Phêrô Vêrôna Trần Văn Trí09.10.1987Nam Thái08.12.2022Du học (HVCG)
Giuse Trần Ngọc Tuấn19.09.1983Bồng Tiên08.12.2022Trụ sở Thái Bình (phó)
Giuse Nguyễn Văn Viễn24.11.1979Yên Kiện, Hà Đông08.12.2022TTMV LCTX An Lạc
Giuse Vũ Minh Hưng22.01.1985Xuân Hòa02.12.2023Thất Sự
Đaminh Phạm Văn Thỏa15.04.1986Thanh Châu02.12.2023Lập Trại
Vincentê Phạm Văn Thành20.02.1991Thanh Minh02.12.2023Lương Đống
Vincentê Đào Văn Thịnh03.01.1990Rưỡng Trực02.12.2023Đồng Vân
Gioakim Phạm Văn Thế08.08.1992Hữu Tiệm02.12.2023Du học
Phêrô Nguyễn Văn Úy02.07.1986Giáo Lạc02.12.2023Vân Am
Tôma Aquinô Trần Văn Duân24.04.1990Hữu Vi16.11.2024Ngọc Đồng (phó)
Phêrô Đinh Quang Đệ05.04.1987Đông Thành16.11.2024Đông Thành (NB)
Đaminh Vũ Văn Động (Long)30.11.1991Giáo Nghĩa16.11.2024TGM
Giuse Phạm Văn Giáo23.02.1991Thượng Phúc16.11.2024Bác Trạch (phó)
Micae Trương Văn Hậu20.09.1989Minh Châu16.11.2024Nghè (Gx. Tiên Nha, Gp. Bắc Ninh)
Phêrô Phạm Văn Hùng07.09.1988Trung Đồng16.11.2024Chánh Tòa (phó)
Giuse Đinh Văn Hưởng23.02.1991Truyền Tin16.11.2024An Lập (phó)
Giuse Nguyễn Văn Khấn05.03.1988Truyền Tin16.11.2024Chợ Chu (Gx. Phú Cường, Gp. Bắc Ninh)
Phêrô Dũng Đinh Văn Long10.07.1988Đông Phú16.11.2024TGM
Phêrô Nguyễn Văn Nhật08.05.1987Lập Trại16.11.2024Thượng Phúc (phó)
Vincentê Hoàng Văn Phận10.07.1988An Lập16.11.2024TGM
Gioakim Đỗ Văn Phú03.02.1989Nguyệt Lãng16.11.2024Đại Hội
Đaminh Phạm Liên Thanh03.04.1982Hoàng Xá16.11.2024Bác Trạch (phó)
Gioan Baotixita Nguyễn Văn Thủ05.09.1990Cam Lai16.11.2024Cao Mại (phó)
Gioan Đặng Ngọc Toản01.03.1989Thọ Sở16.11.2024Trung Đồng (phó)
Đaminh Nguyễn Văn Tuân28.08.1989Đại Điền16.11.2024Hà Nội (đặc trách di dân)
Giuse Nguyễn Quang Tuyên20.08.1989Phục Lễ16.11.2024Cao Xá (phó)
Giuse Nguyễn Quang Tuyền20.04.1989Quân Trạch16.11.2024Du học
Đaminh Nguyễn Văn Vịnh16.06.1989Thọ Lộc16.11.2024Hải Linh (phó)
Antôn Nguyễn Văn Khiên28.02.1972An Lập15.11.2025Phục Lễ (phó)
Gioan Baotixita Hoàng Văn Sơn22.10.1987Phương Xá15.11.2025Bạch Long (phó)
Phanxicô Xaviê Trần Văn Tuyên17.09.1991Cao Mại15.11.2025Thân Thượng (phó)

DANH SÁCH ǪUÝ CHA ĐỊA PHẬN THÁI BÌNH ĐÃ ǪUA ĐỜI (1936-2026)

Quí danhSinhQuê quánChịu chứcNgày mấtMộ phần tại
Đaminh Trần Ngọc ChâuTrần Xá17.08.1936Ngưỡng Nhân
Đaminh Lương Thiện HươngHưng Nghĩa, Bùi Chu24.08.1941Cát Đàm
Đaminh Vũ Khắc Đoán11.01.1942Quỳnh Lang
Phêrô Nguyễn Phúc Thành26.06.1942
Đaminh Nguyễn Trí TuệTrung Thành, Bùi Chu17.07.1942Thuần Túy
Đaminh Nguyễn Năng Tĩnh01.05.1942Thuần Túy
Đaminh Trần Đức PhươngDuyên Thọ, Bùi Chu15.12.1942
Phêrô Nguyễn Cao Nghị10.09.1943
Phêrô Nguyễn Đình KhoátBách Tính, Bùi Chu09.04.1945
Tôma Vũ Thượng Chất1916Lê Xá15.05.194421.11.1945Cát Đàm
Phêrô Vũ Xuân ThiêmSa Châu, Bùi Chu19.03.1947
Đaminh Trần Ngọc ChấnKiên Lao, Bùi Chu09.10.1947
Đaminh Đặng Hiếu LiêmLương Đống30.11.1947
Phêrô Cao Xuân Yến28.06.1948Lạc Thành
Gioan Bùi Kim NguyệnKiên Lao, Bùi Chu29.01.1949Lực Điền
Vincentê Nguyễn Hữu ThụyVõng Phan18.08.1950An Thái
Gioan Baotixita Phạm Hữu LượngCổ Ra, Bùi Chu10.10.1950Bác Trạch
Giuse Trần Minh LuânTriệu Thông11.1950
Đaminh Mai Đức ThậnQuần Phương, Bùi Chu18.11.1951An Lạc
Vincentê Nguyễn Thái1917Thân Thượng15.05.194408.04.1952Cát Đàm
Augustinô Đặng Đức TỉnhAn Phú, Bùi Chu24.07.1952Lạc Thành
Đaminh Mai Đức TínTrung Thành, Bùi Chu01.05.1952
Đaminh Vũ Đức LuậtLương Đống1953
Giuse Phạm Kim BảngLục Thủy, Bùi Chu14.05.1952Tần Nhẫn
Giuse Phạm Đức NgựQuần Cống, Bùi Chu25.08.1953Cát Đàm
Giuse Nguyễn Đức Nghiêm07.12.1953
Giuse Nguyễn Duy Khâm1873Trà Vi30.05.192025.07.1955Cát Đàm
Đaminh Nguyễn Quang Đỉnh1885Thạch Bi, Bùi Chu04.08.1956Cát Đàm
Gioakim Mai Quí ThânKim Thành, Bùi Chu01.11.1956Phương Xá
Vincentê Nguyễn Lịch Thiệp1886Đông Thành192228.01.1963Trung Đồng
Đaminh Phạm Chân Quý1895Trung Lao, Bùi Chu192703.07.1968Bồng Tiên
Giuse Trần Trọng Hậu02.03.1909Triệu Thông, Bùi Chu23.05.193803.08.1969Thuần Túy
Thomas Nguyễn Tình1901Khuông Phù05.05.193621.03.1971Hưng Yên
Thomas Vũ Nguyên Sùng1888Báo Đáp, Bùi Chu192226.04.1975Thượng Phúc
Giuse Nguyễn Xuân Hy1889Đắc Thắng, Bùi Chu192105.08.1975Xuân Hòa
Gioan Baotixita Trịnh Xuân Thu1901Lục Thủy, Bùi Chu28.05.193322.04.1981Phục Lễ
Gm. Đaminh Đinh Đức Trụ15.10.1909Phú Nhai, Bùi Chu23.05.193807.06.1982Thái Bình
Vincentê Trần Du Đồng1899Đồng Quỹ, Bùi Chu31.05.193107.11.1982Bác Trạch
Thomas Trần Công Tính1901Giáo Lạc, Bùi Chu02.06.193203.09.1983Ngọc Đồng
Gm. Giuse Maria Đinh Bỉnh02.05.1922Phú Nhai, Bùi Chu16.07.196014.03.1989Thái Bình
Giuse Vũ Văn Vân1897Sa Châu, Bùi Chu16.07.196018.04.1990Trung Đồng
Gioakim Trần Trọng Uyên1900Hữu Tiệm16.07.196002.02.1992Hữu Tiệm
Đaminh Đào Minh Thông S.D.D.19.05.1945Trung Thành (Thánh Tâm)19.02.197730.11.1992Trung Đồng
Vincentê Nguyễn Khắc Hiếu12.08.1909Giáp Nam, Bùi Chu06.06.194012.03.1993An Lập
Đaminh Trịnh Đức Tính23.12.1941Xuân Hòa19.03.196516.12.1997Trung Đồng
Giuse Maria Nguyễn Thành Hiến30.01.1940Rưỡng Trực19.03.196524.08.2001Cao Mại
Phêrô Trần Đình Bốn22.01.1945Đông A03.12.199404.01.2004Nguyệt Lãng
Augustinô Vũ Văn Hương15.08.1943Văn Lăng11.07.197027.01.2006Thượng Phúc
Tôma Aquinô Phạm Vấn20.06.1941Hữu Vy22.02.200606.02.2007Dương Cước
Phanxicô Xaviê Trần Văn Học17.04.1945Cao Mại16.10.197717.07.2008Bồng Tiên
Vincentê Vũ Văn Duyệt20.05.1948An Lạc16.10.197701.03.2009An Lạc
Augustinô Vũ Đức Tiến S.D.D.09.10.1955Trung Đồng04.08.200705.10.2012Trung Đồng
Antôn Bùi Xuân Huyên15.07.1946Phương Đức, Bùi Chu16.10.197720.12.2013Bạch Long
Giuse Bùi Văn Cẩm01.05.1931Phương Đức, Bùi Chu16.07.196018.05.2014Mỹ Đức
Đaminh Đào Văn Thiềng S.D.D.20.02.1954Phú Đồng04.08.200707.02.2015Mỹ Đức
Gioan Baotixita Phạm Ngọc Châu01.11.1942Cam Lai16.07.197120.08.2015Mỹ Đức
Giuse Mai Trần Huynh08.09.1947Tây Làng16.10.197719.10.2015Trà Vy
Gm. Phanxicô X. Nguyễn Văn Sang08.01.1932Lại Yên, Hà Đông18.04.195805.10.2017Thái Bình
Đaminh Phạm Quang Trung1941Tràng Quan31.05.196506.03.2018Mỹ Đức
Giuse Phạm Đình Phùng17.03.1942Hoàng Xá08.12.201429.11.2018Mỹ Đức
Giuse Nguyễn Văn Ban08.08.1942Cao Mộc01.05.198816.12.2018Mỹ Đức
Giuse Nguyễn Đình Bốn13.10.1944Bơn Làng07.10.198115.11.2019Mỹ Đức
Tôma Aquinô Trần Trung Hà30.03.1942Hữu Vi29.01.196807.09.2020Mỹ Đức
Vincentê Phạm Văn Tuyên08.03.1939Thanh Minh11.07.197030.01.2021Mỹ Đức
Gioakim Nguyễn Duy Thiện15.06.1945Thanh Nê16.10.197728.01.2022Mỹ Đức
Phêrô Trần Khắc Thi22.11.1942Đông A13.08.197222.09.2022Mỹ Đức
Máccô Phạm Văn Quang25.10.1986Phương Trạch08.12.202003.08.2022Mỹ Đức
Phanxicô Xaviê Ngô Văn Toan25.06.1964Đông Phú04.12.200108.10.2022Mỹ Đức
Hiêrônimô Nguyễn Văn Đạo14.09.1944Bác Trạch13.08.197229.02.2024Bác Trạch
Vincentê Đỗ Cao Thăng15.10.1942Tây Làng24.12.197831.03.2025Tây Làng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt:

Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, tập 5, 6, 7, Viện Sử Học dịch, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007.

Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, tập II, Viện Sử Học dịch, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2007.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập I, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam dịch, Nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1998.

Cao Xuân Dục, Quốc triều Hương khoa lục, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Thị Lâm dịch, Nxb. Lao Động, Hà Nội, 2011.

Lm. Bỉnh, Truyện Annam ở Đàng Ngoài, bản chép tay, 1822.

Những Thư Chọn Trong Các Thư Chung Các Đấng Vicariô Apostolico và Vicariô Provinciale về Dòng Ông Thánh Dumingô, quyển I, II, Kẻ Sặt, 1903.

Lm. Moreno, Sử Ký Địa Phận Trung, Phú Nhai Đường, 1916.

Lm. Diaz, Truyện Bốn Ông Thánh Tử Vì Đạo Kính Ở Đền Thánh Hải Dương, Hải Phòng, 1928.

Lm. Phạm Văn Lục, Lịch sử Lưu truyền Địa phận Bùi Chu, 1956.

Lm. Quần Phương, Bách Chu Niên Khánh Niệm 2/ Thánh Tử Đạo Việt Nam, Bùi Chu, 1957.

Hội Linh Tông Đức Cha Thuận, Saigon, 1959.

Lm. Nguyễn Quang Ân, Gia phả Đức Thuận, Lm. Đinh Châu Trân hiệu đính và bổ sung, Saigon, 2009.

Lm. Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử, tập I, Saigon, 1961. Lm. Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử, tập II, Saigon, 1965.

Lm. Bùi Đức Sinh, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, tập I, II, III, Veritas Edition, Calgary, 1998.

Lm. Đỗ Quang Chính, Dòng Tên Trong Xã Hội Đại Việt, Nxb. Antôn & Đuốc Sáng, Houston, 2007.

Bách Chu Niên 4 Chân Phước Tử Đạo Tại Hải Dương, Saigon, 1961.

Địa phận Thái Bình 1936-1961, Saigon, 1962.

Lm. Bùi Đức Sinh, Giáo xứ Ngọc Đồng, Saigon, 1971.

Tăng Bổng Phạm Văn Thiêm, Ngọc Châu Quê Hương Tôi, Đồng Nai, 1993.

Lm. Nguyễn Văn Tòng, Gia phả Cao Mộc, 2014. Lm. Nguyễn Minh, Gia phả Giáo xứ Lê Xá, 2017.

Gm. Nguyễn Văn Sang, / Năm Phục Vụ Dân Chúa Tại Thái Bình 0/.02.1991-0/.02.1996, 1996.

Tòa Giám mục Thái Bình, Kỷ yếu Năm Thánh Giáo phận Thái Bình – 60 năm thành lập giáo phận 1936-1996, Nxb. Hà Nội, 1996.

Gm. Nguyễn Văn Sang, Hồi Ký Năm Thánh Giáo phận Thái Bình 1996-199/, 1997.

Tòa Giám mục Thái Bình, Kỷ yếu // Năm Giáo phận Thái Bình, 2011.

Tòa Giám mục Thái Bình, Kỷ yếu 80 Năm Giáo phận Thái Bình, Nxb. Hồng Đức, 2016.

Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh Giá, Lịch Sử Dòng Mến Thánh Giá, Paris, 2018.

Ngọc Kôn – Thủy Nhiên, Tôma Trinh Cát, Linh Mục Nhạc Sĩ, Văn Sĩ, Thi Sĩ Của Đức Mẹ, Cantáte, 1999.

Gm. Nguyễn Văn Sang, Hồi Ký Của Một Giám Mục Cao Tuổi, tập I, II, III, IV, V, 2011.

Lm. Phạm Sông Hồng, Những Tháng Năm Cuộc Đời, 2020.

ĐÔ. Trần Văn Hiến Minh, Tiểu Sử Cha Jérôme Trần Thành Hiến 1886-1941, Saigon, 1998.

Hoàng Đức Trinh, Vườn Vạn Tuế Thái Bình, Arlington, 2005.

Lm. Vũ Thạch Vịnh, Dòng Đaminh Trên Quê Hương Việt Nam, Saigon, 2024.

Tủ sách Sacerdos, Việt Nam Công Giáo Niên Giám 1964, Saigon, 1963.

Kỷ yếu 10 Năm Thành lập Giáo xứ Phan Rang 1963-19/3, Phan Rang, 1973.

Kỷ yếu Giáo xứ Ngọc Đồng, Giáo phận Xuân Lộc, 2004.

Kỷ yếu 60 năm Giáo xứ Tân Chí Linh, Tổng Giáo phận Saigon, 2015.

Kỷ yếu 6/ Năm Giáo xứ Cao Xá 19//-2020, Tây Ninh, 2020.

Kỷ yếu Giáo xứ Bồ Ngọc 1638-2013, 2013.

Văn phòng Tổng Thư Ký HĐGMVN, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam Niên Giám 200/, Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội, 2005.

ĐCV Thái Bình, Kỷ Yếu Đại Chủng Viện Thánh Tâm Thái Bình, 2021.

Lm. Nguyễn Huynh, Đức Cha Gioan Casado Thuận, Nxb. Đồng Nai, 2021.

Tỉnh Dòng Đa Minh Việt Nam, Tưởng Nhớ Anh Em Đã Qua Đời, Saigon, 2024.

Cùng các bài báo điện tử trên các trang web: hdgmvietnam.com, vietcatholic.org, tgmtb.net, giaophanthaibinh.org và giaophanthaibinh.net.

Tiếng Nước Ngoài:

Resumen Historico de los Principales Sucessos Occuridos en las Misiones del Tunquin, a Cargo de los Padres Dominicos deside 18/2 hasta 18/8, Manila, 1858.

Mission de la Cochinchine et du Tonkin, Charles Douniol, Paris, 1858.

Les Mission Catholique en Indochine 1939, Nazareth, Hongkong, 1940.

P. Recoder, Vida y Martirio de los XXVI Martires de la Mision Dominicana en el Tungkin, Manila, 1900.

Mgr. Neéz, Documents Sur le Clergé Tonkinois aux XVIIe et XVIIIe Siècles, P. Téqui, Paris, 1925.

P. Launay, Histoire de la Mission du Tonkin, Maisonneuve Frère, Paris, 1927.

P. Gispert, Historia de las Dominicanas en Tungkin, Avila, 1928.

P. \urdo, Los Dominicos Españoles en Vietnam 1926-196/, Madrid, 1988.

P. Ocio H. – P. Neira E., Misioneros Dominicos en el Extremo Oriente, Manila, 2000.

P. Gispert, Brevis Synopsis Vitae Omnium Servorum Dei Tum Ex Ordine Praedicatorum Tum Saecularum ad Anno 18/6 ad Annum 1862 In Odium Fidei, Uti Fertur, In Tunquino Interemptorum Quorum Causa Beatificationis Introducta Est, Roma, 1934.

P. Muñoz, Biografía, Heráldica, Genealogía El P. Juan Ventura Díaz, O. P., Santander, 1958.

P. Muñoz, Biografía, Heráldica, Genealogía Apostol Entre Martires El Ilmo. Sr. D. Fray Manuel Riaño, O.P., Santander, 1962.

Mọi thắc mắc, góp ý hoặc cung cấp tư liệu xin liên hệ qua số: 0941059458 (Zalo hoặc SĐT), hoặc qua trang fanpage Tư liệu Lịch sử Giáo phận Thái Bình. Chân thành cám ơn!